CHÚ
LÍNH MỸ GỐC VIỆT
Thằng nhỏ đi từ xa trong bộ quân phục,
bước đi của nó mạnh mẽ, vững chãi. Bà ngoại và má nó trông đứng trông ngồi từ sáng
nay để mong gặp nó. Nó đến gần, bà chạy ra ôm, hun nó tới tấp, nước mắt nước
mũi, sụt xà sụt xịt. Bà mếu máo:
-Sao
con ốm quá vậy con? Con đen thui à. Có đói bụng không? Ngoại có đem đồ ăn cho
con nè. Con chào dì Ánh, cậu mợ Phi đi. Có hai em đi thăm con nè. Jasmine, Dustin
ra đây ôm anh, hun anh một cái nha. Má nó đứng sau lưng, bóp hai bờ vai nó nhè
nhẹ. Nó quay đầu phía sau cho má nó hun một lúc thật lâu.
Tôi ngồi nhìn thằng nhỏ. Mới ngày nào tôi đến
nhà Sophie con gái tôi ở Cali dự sinh nhật đứa cháu ngoại. Lúc đó nó còn bé xí,
bây giờ nó là một thanh niên cao lớn, chững chạc, mặc bộ đồng phục áo trắng quần
xanh đen, đội chiếc mũ thuyền có mũi nhọn, đeo phù hiệu trên ngực, giầy đen
bóng loáng, tôi nhận không ra. Bà ngoại lăng xăng bên cạnh hỏi han thằng nhỏ.
Má nó, tôi và hai vợ chồng Phi ngồi nghe nó kể chuyện đời lính .
Bà Lụa là thông gia với tôi. Tôi đi thăm con
gái ở Dallas. Bà và má nó bay lên Dallas nhờ Phi chở đến San Antonio thăm Eric
là đứa đang ngồi trước mặt tôi . Tình cờ gặp bà ở nhà con gái, tôi theo bà và
gia đình thằng con rể lái xe mất 4 tiếng đồng hồ đến căn cứ không quân Lackland
ở San Antonio. Eric đang được huấn luyện quân sự tai đây.Ngày mai là ngày lễ ra
trường, sau đó nó sẽ được đổi đi đến đơn vị khác để tiếp tục học ngành chuyên
môn.
Bà Lụa ngồi nắn tay, nắn vai nó, xin nó cho
“má nhại” hun thêm vài cái nữa, mắt bà vẫn đỏ hoe. Thằng nhỏ có vẻ mắc cỡ trước
mặt người lạ. Nó nghiêng đầu tránh và nói: “ Má nhại đừng hun con nữa, That’s
enough!”. Bà nuôi nó từ hồi còn nhỏ cho đến lớn. Sống gần bà nên nó hiểu tiếng
Việt. Nó nói tiếng Việt xen lẫn tiếng Mỹ và thích thức ăn Việt nam.“Má nhại” là
“nickname” của bà đọc trại từ chữ “bà
ngoại” mà ra. Đám cháu ngoại, và cháu nội kêu “má nhại” riết rồi quen. Bà thích
gọi cái tên “má nhại” vì chữ này là chữ của bà “chế” ra để nựng nịu tụi nhỏ.
Bà rờ cái eo bụng nó, lại mếu máo:
_ Con ốm quá con ơi! Họ cho con ăn uống có đầy đủ không con? “Má nhại” biết
con tập cực khổ lắm mà. Con thích cơm chiên, “má nhại” đem cho con ăn nè. “Má
nhại” đem thịt kho, giò, chả, thịt chà bông, cá chiên, gỏi cuốn…”Má nhại” có
đem thịt bò chiên cho con nữa. Ăn đi con. Ăn hết đi con.
Đi thăm cháu, bà và má nó vô bếp làm thức
ăn từ mấy ngày trước. Nó viết thư về kể thèm đủ thứ nhất là phở. Giống như hầu
hết các bà, má Việt nam khi gặp con cháu, những câu hỏi đầu tiên là “Con ăn gì
chưa? Con có đói không?” Tình thương của các bà gắn liền với cái…bao tử của
con, cháu. Bà lăng xăng với các giỏ thức ăn bà, má nó và con gái tôi làm từ hôm
trước để sáng hôm sau mang cho nó ăn và ở chơi với nó trong hai ngày. Thằng con
rể đã đặt trước khách sạn “Air Force
Inns” ba phòng trong căn cứ để tiện việc đi lại mỗi phòng 53$ . Muốn vào căn cứ
phải qua bộ phận kiểm tra an ninh bằng thẻ ID, số an sinh xã hội và cho biết số
người đi là bao nhiêu. Các chi tiết này phải ghi danh trước. Khi được chấp thuận,
họ gửi một tờ giấy gọi là “guest pass” để ra vào trại. Những người không có
“guess pass” phải sắp hàng chờ làm thủ tục xin phép ở “Visitor Center” ngay cổng
vào rất mất thì giờ.
Thằng
nhỏ ngồi ăn ngon lành. Nó ăn như đã thèm từ lâu lắm. Nhờ má nó và bà ngoại lên
thăm, nó có cơ hội ăn xả láng thức ăn Việt nam, những món nó thích. Món nào ăn cũng
khen ngon . Vừa ăn nó vừa kể chuyện về hai tháng “huấn nhục” ở căn cứ huấn luyện
các tân binh có tên là “Lackland Air Force Base”, căn cứ Không quân Lackland.
Lackland là tên của Thiếu tướng Frank
Dorwin Lackland, một trong những người tiên phong trong ngành bay, phục vụ ngành không quân trong thế giới
đại chiến thứ hai và có công trong việc xây dựng căn cứ này.Trước
năm 1975, đây là nơi huấn luyện căn bản cho các phi công Việt nam trong thời
chiến tranh. Căn cứ này chuyên trách huấn luyện các
loại máy bay B52, F4 Phantom, Blackbird... và các loại máy bay quân sự khác Nó
được ví như trung tâm của một cái bánh xe có 7 cái căm, mỗi căm xe là một bộ phận
phụ trách một nhiệm vụ thí dụ như bộ phận “802 nd Mission Support Group” làm công việc phục vụ và cung cấp các dịch vụ và các sinh hoạt trong quân đội,
bộ phận “737 th Training Group” làm công việc huấn luyện các phi công chuyên
ngành, bộ phận “Defense Language Institute” dạy tiếng Mỹ cho các phi công Đồng
minh, bộ phận “Air Force Interligence, Surveillance and Reconaissance” chuyên
huấn luyện các sĩ quan chỉ huy chiến đấu. (Combattant commanders), bộ phận “ 24
th Air Force” điều hành và bảo vệ lực lượng không quân của Bộ Quốc phòng, bộ phận
“Inter-American Air Force” dạy 37 khóa kỹ thuật bằng tiếng Tây ban nha và tiếng
Anh cho sinh viên các nước, cuối cùng là bộ phận “37th Training Group” là bộ phận cung cấp kiến thức và huấn luyện về chuyên môn cho các tân binh trong các ngành kỹ thuật và quốc phòng. Họ giúp cho người
sinh viên tốt nghiệp có những kỹ năng, kỹ xảo có thể tìm việc làm hoặc đi vào chuyên ngành dễ dàng. Bộ phận này còn phụ trách huấn
luyện cho các binh chủng không quân, hải quân, thủy quân lục chiến, đặc biệt nhất là các chú quân khuyển “ military walking dog”. Đội quân “AFOSI” (Air Force Office of Special Investigations) chuyên điều
tra tội phạm như gián điệp, khủng bố cũng được huấn luyện tại đây. Eric là một trong 200 sinh viên được bộ phận này “huấn nhục” trong 2 tháng
gọi là “Basic Military Training” viết tắt là “ BMT”, khóa huấn luyện quân sự
căn bản.
Cả nhà ăn trưa chung với
Eric trong phòng cậu Phi. Lâu ngày gặp nhau, Eric đùa giỡn với Jasmine và Dustin. Hai đứa đè gối và ngồi lên bụng anh Eric. Eric nói
cái mình nó bằng sắt tha hồ cho hai đứa nhỏ đánh, đấm ,đập, thụi. Một lát hai đứa
ngồi thở hồng hộc. Anh Eric nắm bốn bàn
tay hai đứa cứng ngắc. Không vùng vẫy được, cả hai mếu máo với “má nhại” anh
Eric làm con đau. Cậu Phi thử nắn hai bắp tay nó. Cậu nói nhờ tập luyện, hai bắp tay nó nở nang
như hai bắp chuối hột và cứng như hai khúc gỗ.
Tôi nhìn thằng nhỏ vừa tốt
nghiệp trung học nhưng nét mặt ra vẻ một người đàn ông phong trần. Trông nó khỏe mạnh,
làn da rám nắng, tóc húi cua sát da như đầu trọc, thân hình của nó cứng cát, vai to, ngực nở, eo thon, hai bắp thịt ở hai cánh tay vồng
lên, săn chắc. Eric có nụ cười thật trẻ thơ, khi cười, khuôn mặt nó sáng hẳn
lên. Bà ngoại lại gần, xót xa ôm cái bụng
hỏi nó :
-Bụng con bây giờ xẹp lép, con mặc quần “size” mấy? “Má nhại” nhớ “size” cũ của con là 34? Con sụt bao nhiêu
pound? Tội nghiệp con, “má nhại” nhớ con quá. Ráng học nghen con. Con chuyển sang trại mới, “má nhại” gửi đồ
ăn cho con. Đừng vi phạm kỷ luật nha con.
Thằng nhỏ
nhăn mặt hỏi:
-
“Má nhại”,“Vi phạm kỷ luật” là gì? “ I don’t understand it.”
Cậu Phi nó giải thích:
-Là “ Don’t break the rules”. You must
be a good guy. Ok?
Nói đến đây bà lại rơm rớm nước mắt.Thằng
nhỏ này coi bộ gắn bó và thương bà ngoại, nó vỗ vai bà nhè nhẹ:
-“Má nhại”, Đừng khóc! Don’t cry! Con muốn “má nhại cười. Con vẫn khỏe
mà! Con mặc quần “size” 29. Con “lose weight”nhưng đâu có sao!
“Lose weight” tốt! “Má nhại”, “Don’t worry
about me”. “ I grow up. I am a big man now.”. Nói
xong, nó gồng hai bắp tay, hai con chuột căng lên cuồn cuộn như một lực sĩ khoe
trước mặt má nó làm bà ngoại phì cười.
Bà ngoại và cậu Phi liên tục hỏi về đời sống của nó trong trại. Thằng nhỏ
kể đủ chuyện bằng tiếng Việt lẫn tiếng Mỹ. Có khi nó nói tiếng Mỹ, bà ngoại không
hiểu
phải hỏi cậu Phi. Thằng nhỏ kể những bước
đầu tiên vào đời lính của nó là sự tập luyện để có một thân
thể khỏe mạnh, dẻo dai thích nghi với hai tháng thử thách cam
go và khóa học chuyên môn sắp tới. Nó kể tới đâu bà ngoại chép miệng,
xuýt xoa tới đó. Má nó ít nói, nét mặt lúc nào cũng trầm
ngâm. Bà xót cháu bà là
phải vì sống bên cạnh bà, nó được cưng chiều,
sung sướng, an nhàn, đầy đủ quen rồi. Những ngày tập luyện gian khổ ở đây sẽ
giúp nó trưởng thành và học nhiều kinh nghiệm sống. Đời nó còn dài, kinh nghiệm
nào cũng phải học và trả giá. “No pain, no gain”.
Hai tháng “huấn nhục” hay còn gọi là hai tháng “hành xác”này nhằm mục đích luyện cho các học viên sức
chịu đựng bằng những buổi dậy sớm làm vệ sinh cho nhanh rồi tập thể dục. Ăn sáng xong, tùy theo ngày, các
huấn luyện viên cho học viên ra bãi tập, tập đi,
đứng, tập chạy, tập nhào lộn, tập nhảy cao, tập leo giây, tập leo tường, tập trườn, bò dưới những hàng dây kẽm gai sắc nhọn, tập phóng qua các chướng ngại vật, tập lội qua những bãi sình lầy, tập hít
hơi ngạt…dưới cái nắng và cái nóng gay gắt của
thời tiết vùng Texas lúc nào vào khoảng trên 80 độ F. Trời mưa thì mặc trời
mưa. Các buổi tập ngoài trời vẫn theo thời khóa biểu quy định. Bệnh thì có bệnh
viện, bác sĩ, thuốc men. Mỗi huấn luyện viên phụ trách một nhóm khoảng 50 người. Ăn trưa xong, các học viên được nghỉ ngơi hơn một tiếng đồng
hồ. Buổi chiều là những giờ học lý thuyết, ăn tối, sinh hoạt cá nhân rồi lên
giường lúc 9 giờ. Tất cả các sinh hoạt ăn, ngủ, học, tập luyện,
nghỉ ngơi đều có giờ giấc.
Học viên nào trễ hay vi phạm kỷ luật, cả nhóm sẽ bị phạt mất phần ăn trưa. Nhờ đi lính, thằng nhỏ biết được thế nào là đói. Nó và các bạn thường xuyên đói bụng vì sức trai đang lớn, ăn nhiều nhưng
phần ăn chỉ có giới hạn, chỉ vừa đủ no, dù có tiền nhưng không được phép mua thức
ăn trong trại. Nước Mỹ là nước giàu, dư thừa thực phẩm,
làm gì có chuyện tân binh ăn đói ? Thằng này, hồi chưa đí lính, bà ngoại kể nó ăn như… hạm và kén ăn . Ở ngoài đời, các cậu
ăn uống ngon quen rồi, có khi thừa mứa. Vô trại tập luyện này, khẩu phần
ăn đều có tính toán, chỉ đủ về dinh dưỡng cho các cậu có sức khỏe để tập luyện,
làm sao ăn ngon như …bà, má nấu ở nhà?. Có thể đây cũng là mục đích cho các cậu có kinh nghiệm kham khổ để xem có chịu đựng nổi những đòi hỏi của cái… bao tử không? Đời lính, có khi phải chiến đấu trong rừng sâu
núi thẳm, nhịn ăn hoặc ăn đói là chuyện bình thường. Hồi sáng,
tôi nhìn nó ăn thịt
thật ngon lành. Nếu cái bao tử còn chứa được, nó còn tiếp tục ăn nữa. Nó
kể nó thèm ăn thịt lắm, nhất là thịt bò
chiên và phở.
Theo lời Eric kể, thực đơn của các học viên chất bột là
chính, gần như ít có thịt, rau ,quả, sữa đầy đủ. Ngày chủ nhật mới có phô- mai. Mỗi tháng, tự động trong chương mục
ngân hàng của nó có hơn 800$. Số tiền này chính phủ cho. Gọi là “cho” nhưng để
các học viên dùng để trang trải các chi phí cá nhân như tiền giặt ủi mỗi tháng
250$ ( hèn chi các học viên đứa nào quần áo cũng sạch sẽ, tươm tất, láng
cón) tiền ăn mỗi ngày 10$, tính lại chi
xài cho cá nhân đâu còn bao nhiêu? Nếu ở
ngoài đời có hai chữ “ăn” và “chơi” thì trong trại lính này chỉ có hai chữ “học”và
“tập”. Nếu ở ngoài đời lè phè, chậm chạp, bừa bãi, vô kỷ luật thì sau khóa huấn
luyện này, học viên sẽ thay đổi cách sống,
trở nên nhanh nhẹn, nghiêm túc, nề nếp. Học viên không được giữ điện thoại cầm
tay, không được liên lạc bên ngoài, mỗi tháng được gọi tối đa 15 phút và có thể
viết thư cho gia đình. Sau hai tháng huấn luyện sẽ có một kỳ thi, nếu đậu, được
ưu tiên chọn chuyên ngành, nếu rớt, họ cho học ngành nào thì phải chịu. Thằng Eric coi vậy mà gan cùng mình. Đăng ký
vô lính, nó chọn ngành… chất nổ và bom mìn. Bởi vậy mẹ và bà ngoại nó khóc hoài.
Ở xứ Mỹ này, con cái trên 18 tuổi coi như trưởng thành và có trách nhiệm với bản
thân nên nó tự chọn, cha mẹ không bắt buộc như kiểu gia trưởng ở Việt nam “áo mặc
không qua khỏi đầu”. Bà ngoại và mẹ nó khuyên chọn ngành khác an nhàn và ít
nguy hiểm hơn nhưng nó nhất định đi theo ngành này. Nhìn bề ngoài trông nó hiền
lành, ít nói, đôi khi lạnh lùng nhưng bên trong nó thật là một thằng “tough guy”. Tôi nghe nó chọn
ngành này mà …giật cả mình!
Đí lính Mỹ không phải dễ. Yêu cầu trước
hết là thể lực. Ngoài sự huấn luyện về thể chất, học viên tùy theo trình độ, sở
thích, kỹ năng chọn lựa các ngành thích hợp. Ngành nào cũng phải học tóe khói,
tập bở hơi tai, cuối khóa có kỳ thi tốt nghiệp. Khi ra trường, học viên tùy
theo trại có nhu cầu, có thể ở lại học
tiếp hoặc thuyên chuyển đến căn cứ khác. Học viên nào ở lại được chọn học trong sáu
ngành. Có 6 liên đội chuyên huấn luyện về
kỹ thuật ( Technical Training Squadrons) để cho các học viên chọn lựa chẳng
hạn như liên đội 37 th TRG huấn luyện các học viên sau này trở thành những người
dạy kỹ thuật hoặc các nhà lãnh đạo, liên đội 341 nd TRS huấn luyện và đào tạo
cho bộ Quốc phòng các “handlers” là những người dẫn chó đi bắt tội phạm hoặc kiểm
tra ma túy ở phi trường, liên đội 342 nd huấn luyện và đào tạo các
“Pararescuemen”, những người này nhận
các sứ mệnh lớn lao, nguy hiểm và chịu trách nhiệm trước Tổng Thống (chẳng hạn
như phối hợp bắt Bin Laden trùm khủng bố). “Pararescuemen” là những người phải
biết “mưu sinh thoát hiểm”, giỏi các kỹ năng như nhảy dù, lặn sâu, leo núi, lái
“snowmobile”( là loại xe lái trên tuyết và
lướt trên nước). Họ là hình ảnh nhân vật James Bond 007 ở ngoài đời. Họ
cứu phi công lâm nạn, xâm nhập vào hang ổ địch, nhảy dù xuống các vùng đất nguy
hiểm, cung cấp tin tức chiến lược cho các đơn vị không quân và lục quân định hướng
để di chuyển đến các vị trí chiến đấu. “SERE’ là tên gọi các công việc của họ:
“Survival, Evasion, Rescue, Escape”. Ngoài ra còn có liên đội 343 rd huấn luyện
và đào tạo các nhân viên an ninh, liên đội 344 th TRS huấn luyện các chuyên
viên máy móc trong ngành hàng không, bảo trì các loại xe thiết giáp, chuyên chở
các trang thiết bị, xử lý các hóa chất độc hại và chất nổ phế thải…
.Khởi hành từ 7 giờ nhưng vì kẹt xe nên gia đình đến trễ, không được dự lễ
cấp chứng chỉ tốt nghiệp của Eric. Buổi lễ chính thức là buổi lễ ra trường sáng
hôm sau. Cả nữa ngày, Eric dẫn gia đình 6 người đi xem căn cứ Lackland.
Phải gọi căn cứ này là một thành phố vì
nó rộng lớn quá với diện tích khoảng gần 7000 acres. Lúc đầu chỉ có trại “Kelly
Field” là một trại lính nhỏ, chung quanh là vùng đất đầy muỗi mòng, đá và rắn,
các phi công dùng vùng đất hoang vu này để tập luyện thả bom và đặt tên nó là “The
Hill”. Tướng Lackland nhìn thấy đây là vùng đất thuận lợi nên có kế hoạch bành
trướng thành một căn cứ huấn luyện quy mô. Căn cứ mang tên Lackland để tưởng niệm
công lao này của ông. Từ khi thành lập năm 1941 đến nay, căn cứ này đã huấn luyện
cả triệu học viên ra trường. Cư dân sinh sống trong căn cứ có khoảng 7000 người gồm có dân sự và học
viên, 412 đơn vị gia cư, 152 gia đình, lợi tức trung bình khoảng 32.000 một
năm. Thành phần chủng tộc ở đây gồm 65% Mỹ trắng, 20% Mỹ đen, 4% người bản xứ (native
American) còn lại là các sắc dân khác.
Lối đi vào trại có hai cổng chính, “Selfridge
west gate” ở hướng Tây và “Bergouist gate” ở hướng Đông . Con đường lớn
nhất mang tên “Military drive” chạy dài từ Bắc xuống Nam chia căn cứ này làm
hai “thành phố” nhỏ trong đó có những con đường dọc, ngang như bàn cờ. Có nhiều
khách sạn sang trọng như “Mariotte”, các phòng trọ “Inns” vừa túi tiền, các bệnh
viện, tiệm thuốc, nhà trẻ, nhà hàng, siêu thị, building, sân chơi, hồ bơi, tiệm
giặt ủi, hội đua ngựa, nhà thờ trường học, công viên “Lion Park”, các trung tâm
thương mại (mall), trung tâm thể dục thẩm mỹ (fitness center), trung tâm sinh
hoạt cộng đồng (community center)… Vận động trường “ Parade Grounds” là nơi sẽ
tổ chức lễ ra trường nằm trong khu này. Không xa “thành phố” là các trại lính rộng
mênh mông gồm tổng hành dinh “headquarter” nơi chỉ huy các đội huấn luyện và điều
hành các hoạt động về quân sự , các tòa building lớn trong đó có đơn vị gìn giữ
an ninh, phòng ăn, phòng ngủ, phòng sinh hoạt của các học viên. Gần đó là sở cứu
hỏa, phòng giặt, nhà vệ sinh, bãi tập, nhà kho, nhà ở của cư dân làm việc trong
căn cứ.
Sau nhiều giờ đi thăm “thành phố” Lackland,
đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tận mắt một căn cứ quân sự quy mô và
tiêu biểu, xứng đáng là một trong những căn cứ lớn nhất ở nước Mỹ với danh hiệu
“The Gateway to the Air Force”, cửa ngõ đến với lực lượng không quân Hoa kỳ.
Đi chơi một vòng thăm trại, ai nấy đều mỏi
mệt, trở về nghỉ ngơi, chuẩn bị ăn cơm tối dưới phố. San Antonio được xem là
thành phố du lịch có nhiều phong cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử, có truyền thống
văn hóa lâu đời với các lễ hội, diễn hành, tiệc tùng, ca hát... Đây là thành phố
đông dân cư lớn thứ bảy ở nước Mỹ 1.300.000 ngàn người và thứ hai sau Houston ở
Texas. Quảng trường “River Center” là trung tâm sinh hoạt chính lúc
nào cũng sầm uất, nhộn nhịp. Các thương
hiệu nổi tiếng như “Macy’s”,“Starbucks”, “Victoria Secret’s”…đều tập trung tại
đây. Có hàng trăm nhà hàng lớn, nhỏ, sang trọng hoặc trung bình với thực đơn
truyền thống của Thái, Mễ, Nhật, Mỹ, Ấn Độ. Các cửa hàng buôn bán, phục vụ, giải
trí…lúc nào cũng đầy người.Trai thanh nữ tú cặp kè qua lại. Khách du lịch, thân
nhân đi thăm học viên đến San Antonio không lúc nào ngớt. Phong cảnh hữu tình nhất có lẽ là “River Walk”, con đường quanh
co, khá dài, dành cho người đi bộ, lót gạch hoặc trát xi măng, cây cối xanh
tươi, hoa lá đủ màu, sạch sẽ và râm mát. Dọc theo con đường, một bên là sông nước
uốn lượn xuôi dòng một bên là những nhà hàng lộ thiên xây trên những dốc cao với
những chiếc dù xanh đỏ che nắng xinh xắn. Gia đình 8 người chúng tôi lên một
chiếc tàu nhỏ , giá vé khoảng 8 đồng cho mỗi người. Chiếc tàu chở khoảng 20
hành khách chạy dọc theo dòng sông khoảng
nửa tiếng đồng hồ. Khách bộ hành vừa đi vừa ngắm những cây cổ thụ tàn lá xum
xuê soi bóng bên bờ sông. Khách ngồi trên thuyền, vừa nghe người “tour guide” kể
chuyện về lịch sử thành phố, vừa ngắm bầu trời xanh, cây cảnh, nóc nhà thờ,
trang trại (ranchos) và những ngôi nhà cổ trên dốc cao. Phong cảnh thật là đẹp
và nên thơ. Ban đêm, con đường rực rỡ
ánh đèn. Tiếng đàn guitar với điệu nhạc “flamenco” và những bài hát trữ tình bằng
tiếng Tây ban nha vang lên từ những nhà hàng, hộp đêm. Các ban nhạc “live show”
với các nhạc sĩ trình diễn ngoài trời làm cho khu “River Center by night” thật quyến
rũ, thơ mộng và sống động.
Theo kinh
nghiệm của Eric, nó chọn một nhà hàng Mỹ vừa là một “museum” nhỏ có ưu tiên cho
các học viên tên là “Buckcorn Saloon and Museum”. Học viên vào ăn ở nhà hàng
này được phát một cái thẻ trong đó các học viên được phép trở về trại lúc mười
giờ thay vì tám giờ theo quy định. Nghe Eric nói vậy, ai cũng ngạc nhiên. Thức ăn khộng có gì đặc biệt, quanh đi quẩn lại
là steak, hamburger, taco, salad, chips, sauce… và nước uống vậy mà phải trả
25$ một người. Trẻ em và người lớn cùng giá. Ngoài ăn uống, có những trò chơi đặc
biệt bằng kỹ thuật cao tạo ảo giác như làm cho người mình thu nhỏ lại hay tạo
bóng mình trên tường…Nhà hàng đông người, khách ra vô nườm nượp, hầu hết là những
thân nhân muốn có thêm hai tiếng đồng hồ quý giá với con em mình. Ăn xong, ai
cũng tiếc tiền nhưng vui vì có các trò chơi lạ và “lá bùa” thêm hai tiếng đồng
hồ đi thăm thành phố San Antonio với Eric.
San Antonio là thành phố đẹp, cổ kính, nhà
cửa xinh xắn ảnh hưởng kiến trúc Tây ban nha với đường nét hình vòng cung và
các hoa văn trang trí tinh xảo. Là thành phố du lịch, mỗi năm thu hút khoảng 26
triệu du khách với những địa danh lịch sử và những thắng cảnh như “Mission
Alamo”, “River walk”, “Sea world”, “Six Plags Fiesta…San Antonio còn là nơi có
nhiều căn cứ quân sự nổi tiếng như “Fort Sam Houston”, “Lackland Air Force Base”,
“Randolph Air Force Base”…Đội bóng rổ “San Antonio Spurs” nổi tiếng với 4 lần
vô địch giải NBA.
Gần 10 giờ đêm, khu “River Center” vẫn
đông người qua lại. Chúng tôi phải trở về đúng 10 giờ quy định. Eric trở về trại còn gia
đình chúng tôi về phòng trọ “Gateway Villa” thuộc “Air Force Inns” gần đó để
nghỉ ngơi. Ai nấy đều mỏi mệt, đánh một giấc ngủ thật ngon sau một ngày đi chơi
thú vị với với Eric.
Sáng hôm
sau, cả nhà đều dậy sớm. Ăn sáng xong, chúng tôi tập trung đến trạm xe bus gần đó để cùng với
các thân nhân lên xe đến “Parade Grounds” là nơi diễn ra cuộc diễn hành. Từ khu
“Gateway Villa” là khu nhà trọ đến vận động
trường “Parade Grounds” qua nhiều đoạn đường khá xa nên các phương tiện chuyên
chở công cộng như xe bus thật là tiện lợi. Khi chúng tôi đến, vận động trường
đã khá đông người. Ai cũng ăn mặc đẹp để chụp hình. Ai cũng muốn đến sớm để có
chỗ tốt gần chỗ duyệt binh. Thân nhân được xếp ngồi theo ngành học của học
viên. Học viên học ngành nào, thân nhân được xếp ngồi theo từng khu vực để lát
nữa khi các học viên đi qua, họ sẽ xướng tên các liên đội (squadron), thân nhân
sẽ nhìn thấy con em mình diễn hành trong
đó . Đây là một thảm cỏ xanh rộng mênh mông có những lối đi bằng xi măng cho người đi bộ. Chung quanh vòng đai sân
là bãi đậu xe.Vài chục chiếc máy bay đủ loại, đủ cỡ lớn nhỏ được trưng bày làm cho khung cảnh’”Parade Grounds” thêm phần
hùng tráng, có khí thế, biểu dương lực lượng ngành không lực Hoa Kỳ. Khán đài
là một tòa nhà building lớn dành cho các nhân vật lãnh đạo và các cấp chỉ huy
làm lễ ra trường. Trước mặt khán đài là cột cờ. Lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
tung bay trước gió cùng với một hàng cờ xí đủ màu của các nước. Mặt trời mọc
cao dần. Ánh nắng ban mai lan tỏa trong
không gian hứa hẹn một ngày gay gắt của thời tiết vùng Texas vào giữa trưa có
khi lên đến 100 độ F. Thân nhân được hướng dẫn không đội nón hay che dù. Họ đã ngồi đầy trên những hàng
ghế có mái che như ở trong sân vận động. Mọi người ai cũng nao nức được nhìn thấy
rõ con em diễn hành ngang qua chỗ mình ngồi.
Buổi lễ bắt đầu lúc 9 giờ. Mở đầu là
lễ chào quốc kỳ và mặc niệm các chiến sĩ tiếp đó là bài diễn văn của vị chỉ huy
căn cứ Lackland . Nhìn lá cờ Hoa kỳ tung bay phất phới, lắng nghe từng lời và
tiếng nhạc trầm hùng của bài quốc ca, trong giây phút cúi đầu mặc niệm những
chiến sĩ Hoa kỳ đã hy sinh, tôi hồi tưởng lại lịch sử dựng nước Hoa kỳ trải qua
các cuộc chiến tranh cách mạng dành độc lập “The American Revolutionary War”
(1775- 1783), là cuộc chiến tranh giữa Vương Quốc Anh ( Kingdom of Great Britain)
và nước Hoa kỳ vừa mới thành lập gồm 13 nước thuộc địa. Kế đó là “ The Mexican-
American War” (1846-1848) cuộc chiến tranh giữa người Mỹ Texans với người Mễ
tây cơ. Tiếp theo là cuộc nội chiến tương tàn “ the Civil War”(1861-1865) giữa
hai miền Nam Bắc. Thế giới đại chiến thứ nhất (1914-1918), Hoa kỳ tham chiến với
các nước Đồng minh Anh, Pháp ,Nga…chống các nước Đức, Áo, Hung…Thế giới đại chiến
thứ hai (1939- 1945), Hoa kỳ tham chiến cùng với lực lượng Đồng Minh đánh tan
trục Phát- xít Đức-Ý-Nhật. Tại châu Á, Korean War (1950-1953) là cuộc chiến
tranh giữa Nam hàn do Hoa kỳ ủng hộ chống lại Bắc hàn do Trung cộng và Nga xô yểm
trợ. Năm 1955, chiến tranh Việt nam giữa
hai chủ nghĩa Quốc gia và Cộng sản để rồi kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Cho đến ngày nay, cuộc chiến tranh chống độc tài Sadam Hussein ở Iraq đã chấm dứt.
Chiến tranh chống khủng bố quốc tế tại Afganistan vẫn đang còn tiếp diễn. Gần
đây nhất là cuộc nội chiến giữa các sắc tộc ở Syria, nước Mỹ còn đang quyết định
có nên tham chiến hay không. Ai đó đã có câu nói thật là sâu sắc “ Muốn có hòa
bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Những căn cứ quân sự trên đất Mỹ vẫn tiếp tục đào tạo những đứa con cho xứ sở
để bảo vệ đất nước này. Tôi tự hỏi trong số những người thanh niên đang diễn hành lát nữa đây sẽ có
những người sau này sẽ ra mặt trận. Ai còn, ai mất? Ai sẽ là người ra đi không hẹn ngày trở về ?
Nghĩ đến đây, lòng tôi không thể quên 38
năm trôi qua mà cứ ngỡ như mới ngày nào. 30 tháng 4 năm 1975 mãi mãi vẫn là
ngày quốc hận cho những người Việt tị nạn
xa xứ. Những lần về Việt nam, khi đi ngang qua xa lộ Biên hòa, tôi không còn
nhìn thấy bức tượng đồng “Thương Tiếc”,
của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Hình ảnh người chiến sĩ Việt nam có đôi mắt
xa xăm, buồn “u uẩn chiều tiễn biệt”, ngồi trong tư thế nghỉ trên bệ đá, súng để
trên đùi. Tiếng hát não lòng của ca sĩ Khánh Ly còn văng vẳng đâu đây “ Anh nằm xuống/ như một lần/ đã đến đây/ đã
rong chơi trong cuộc đời này/ đã bay cao trong vòm trời này …” “ Tấm thẻ bài
này/ anh để lại làm gì/ Anh để lại đây/ để muôn đời tiếc nhớ hay nuôi thêm hận
thù?…” Nghĩa trang Quân đội hay còn gọi là Nghĩa trang Quốc gia nơi an nghỉ của
30.000 quân nhân tử sĩ của 4 vùng chiến thuật, từ các mặt trận Hạ Lào, An Lộc,
Mậu Thân…Họ là những người thanh niên “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt. Xếp
bút nghiên theo nghiệp đao cung” được đào tạo từ trung tâm huấn luyện Quang Trung
ở Hóc môn, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức,
trung tâm huấn luyện Đồng Đế Nha trang, TrườngVõ Bị Quốc gia Đà Lạt. Hình ảnh
hào hùng của họ trong những cuộc diễn hành xa xưa vẫn còn ghi dấu ấn sâu đậm
trong lòng tôi. Ngồi trên khán đài dự lễ ra trường của những người lính Mỹ
trong đó có những người gốc là người Việt nam như thằng Eric, nó đâu có biết gì
về đất nước Việt nam, về chiến tranh Việt nam, về những người lính Việt nam Cộng
hòa? Nó đi lính cho đất nước Hoa kỳ. Nó là người lính Mỹ, chiến đấu và hy sinh cho
đất nước này. Cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm để lại con số 58.000 người lính Mỹ
tử trận. Tên tuổi những người lính này được ghi nhớ tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington
tại Washington DC. Còn những người chiến sĩ Việt nam Cộng hòa đã hy sinh trước
30 tháng 4 năm 1975, họ có được an nghỉ ngàn thu ở một vùng đất nơi họ gọi bằng hai tiếng quê hương?
Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa sau 1975 đã bị sử dụng làm doanh trại Quân đội
nhân dân, nhà máy nước Bình an, các cơ sở tiểu công nghệ dựng lên quanh đó, dân
cư lấn chiếm đất làm nhà, các ngôi mộ bị đập phá hay dời đi nơi khác. Nơi an
nghỉ của người nằm xuống bây giờ tiêu điều, hoang tàn và xơ xác có khác gì lòng
người Việt nam ly tán, mất mát, tha hương theo vận nước nổi trôi.
Tôi nhìn những chiếc máy bay đậu chung
quanh vận động trường, những bộ quân phục thẳng nếp, những khuôn mặt trẻ,
nghiêm nghị của các tân binh, bài diễn văn hùng hồn của vị chỉ huy trưởng căn cứ
Lackland, tiếng quân nhạc hùng tráng gợi nhớ đến thảm cảnh chiến tranh xảy ra ở
khắp nơi trên thế giới. Người Mỹ đã tham chiến với các Đồng minh ở các nước nhưng
cuộc chiến tranh chỉ thực sự xảy ra trên đất nước này sau khi hai tòa nhà “Twin Towers” trong đó có “World Trade Center”
ở New York bị quân khủng bố tấn công. Đất nước Hoa kỳ vẫn cần những người tân
binh như Eric. Họ sẽ là những người con ưu tú, dũng cảm, hy sinh để bảo vệ đất nước này.
Vừa lúc đó, từ chiếc loa phát thanh
vang lên lời giới thiệu buổi diễn hành bắt đầu. Mọi người nhìn thấy từ đàng xa.
đội quân nhạc đồng phục trắng , nón trắng với tiếng kèn, trống, tiếng“cymbal”
xèng xèng vang lên theo từng nhịp bước. Tiếp theo đó là các tân binh mặc đồng
phục áo trắng ngắn tay, quần xanh đen, giày đen, đội mũ thuyền xanh đi theo từng
đội. Hàng đầu là một dãy 6 người cầm cờ mặt hướng về phía trước, các hàng sau
là các tân binh tốt nghiệp, tay mặt giơ ngang trán trong tư thế chào, đầu ngước
lên hướng về phía khán đài, chân bước theo nhịp trống và hiệu lệnh của người chỉ
huy. Họ đi theo nhịp quân hành, tay đánh nhịp, chân bước đều. Tiếng loa phóng
thanh giới thiệu từng liên đội khi đi ngang qua chỗ thân nhân ngồi. Các thân
nhân đều đứng lên vỗ tay, huýt sáo, gọi tên, cổ võ tinh thần các tân binh khiến
cho bầu không khí thật là phấn khích và náo động.
Ngồi tại sân vận động tại thành phố
San Antonio, lần đầu tiên tham dự buổi lễ
ra trường của các tân binh trong khung cảnh trang nghiêm, hùng tráng với các lễ
nghi quân cách của một đất nước hùng mạnh
về quân sự như nước Mỹ làm tôi nhớ đến không khí chiến tranh ở quê nhà cách đây
40 năm. Vào một buổi chiều trời mưa tầm tã, gia đình tôi đến nghĩa trang Quân đội
để nhận xác anh Bằng tử trận tại An lộc. Chiều nghĩa trang thật buồn. Những người đến đây đều có chung một nét mặt u sầu,
lặng lẽ. Những bà mẹ mắt đỏ hoe. Những ông bố đăm chiêu, trầm lặng. Những thiếu
phụ còn trẻ quấn vội vòng khăn tang trên đầu. Những đứa bé đang quấy khóc còn bế
trên tay. Tại khu chung sự vụ, nơi chăm lo việc tống táng lúc nào cũng trắng
các vành khăn tang của những người đi nhận xác. Các tử thi được chở về từng đợt
bọc trong những chiếc “poncho” màu đen đặt trong phòng lạnh của nhà xác. Mùi tử
khí bốc lên nồng nặc.Tiếng khóc rưng rức của má tôi, bác tôi, tiếng khóc òa của
ba tôi khi nhận ra xác anh với chiếc thẻ bài còn đeo trên cổ. Lần đầu tiên
trong cuộc đời, tôi có cảm giác chiến tranh thật gần và thật tàn nhẫn.Tôi cầm
dù đi dưới mưa mà nước mắt ràn rụa khi nhìn khu nghĩa trang từ chiếc cổng tam
quan đi vào là ngọn đồi mang tên “Đền Tử sĩ”. “Nghĩa Dũng đài” là đỉnh trung
tâm nằm trên một ngọn đồi cao hơn nơi đó có dựng một thanh gươm xây trên một
cái bệ tròn chỉa thẳng lên trời. Hình ảnh người chiến sĩ trong bức tượng
“Thương Tiếc” toát ra một vẻ bình thản, ung dung, an nghỉ. Chung quanh là những
hàng mộ thẳng tắp chạy dài hun hút. Đâu đó tiếng khóc ai oán não nùng vang lên
từng hồi. Mưa vẫn còn rơi lác đác. Bầu trời xám xịt. Gió thổi lồng lộng. Hương
tàn, khói lạnh. Những chiếc bình hoa khô héo ngã nghiêng. Cỏ dại mọc xanh rì
lan trên lối đi. Có những ngôi mộ thấp ngang với mặt đất không còn ghi lại dấu
tích gì của người đã khuất. Rải rác đâu đó là những vành khăn tang trắng còn đứng
dưới mưa chung quanh những ngôi mộ mới đào.Tất cả chỉ còn là cát bụi.
Anh Bằng, người anh gọi ba tôi là chú
ruột, sống với gia đình tôi từ khi còn nhỏ sau khi bác tôi mất, cái chết của
anh, giờ giới nghiêm, tiếng “đại bác ru đêm”, hỏa châu rực sáng, tiếng súng, tiếng
đạn pháo kích, nhà cháy, xác Việt cộng và lính Cộng hòa nằm trên đường phố trong trận Mậu Thân 1968, chiến
tranh đã đi vào thế giới chữ nghĩa trong những trang sách của tôi, cô sinh viên
đại học Văn khoa tại thành phố Sài gòn. Tôi đã lắng nghe những bản nhạc viết về
đời lính của nhạc sĩ Nhật Trường với một cái nhìn khác: cảm thông, chia sẻ ,quý
mến và gần gũi hơn với họ. Những hình ảnh đẹp và hào hùng của các chiến sĩ
không quân trong bài “Tuyết trắng”, lãng mạn và trữ tình trong bài “Hoa biển”,
chân thật và tha thiết trong “Tình thư của lính”…đã làm cho Sài gòn có phong
trào “Yêu lính”. “Anh không chết đâu anh” viết về đại úy nhảy dù Nguyễn văn
Đương, “Người ở lại Charlie” viết về đại tá nhảy dù Nguyễn đình Bảo…là những tấm
lòng tiếc thương, cảm phục và biết ơn những người chiến sĩ đã hy sinh. Nhạc sĩ
Nhật Trường sáng tác nhiều bản nhạc truyền
cảm và xúc động về đời lính. Nhạc sĩ Nhật Trường đã giúp tôi rộng mở tấm lòng
kính trọng, trân quý và thương mến họ mặc dù lịch sử đã sang trang. Thỉnh thoảng
trong những buổi lễ hay diễn hành tại khu cộng đồng người Việt, hình ảnh những
bộ quân phục, lá cờ vàng ba sọc đỏ, lời nhạc của bài Quốc ca “ Này công dân ơi…”
vẫn làm tôi cảm động rươm rướm nước mắt.
Buổi
lễ chấm dứt. Eric được phép ra gặp thân nhân. Sau khi ra trường, từ nay nó sẽ mặc
bộ quân phục này khi đi ra ngoài. Lúc nào tôi cũng thấy bộ quân phục của nó sạch
sẽ, thẳng nếp, giày đen bóng loáng. Nó luôn luôn sửa chiếc mũ thuyền cho thẳng
thắn, ngay ngắn. Tôi hỏi nó bằng cách nào, nó chỉ cách mắt nhìn thẳng vào ngón
tay trỏ dơ lên cao, đặt trước mũi làm trung tâm, đầu nhọn của chiếc mũ hình cái
thuyền phải canh sao cho thẳng với ngón tay. Thảo nào thỉnh thoảng thấy nó dơ
ngón tay trước mũi. Cả nhà ghé vào một tiệm “buffet” ăn bao bụng. Má nó nhâm
nhi chút ít, chỉ ngồi bên cạnh nhìn con ăn. Còn vài tiếng đồng hồ nữa chúng tôi
phải trở về Dallas. Má nó ghé mua cho Eric đôi giày và vài thứ vật dụng trong
trại trả bằng tiền mặt. Các cửa hàng này chỉ nhận thẻ của học viên. Các học
viên chỉ được dùng thẻ credit của trại cấp để tiêu xài. Bà ngoại, má nó và cậu
Phi dúi vào túi nó vài tờ giấy trăm. Eric nói sẽ xin phép bộ phận an ninh cho
chúng tôi được đi thăm các phòng ăn và chỗ ngủ của Eric trước khi ra về. Đó là
các tòa building lớn nằm trong một khu riêng biệt yên tĩnh xa các khu sinh hoạt
và thương mại. Phòng ngủ của các tân binh là những căn phòng lớn. Những dãy giường
hẹp chỉ vừa đủ một người nằm thẳng, không có chỗ để lăn qua lăn lại thoải mái.
Đặc biệt là mền gối xếp ngay ngắn, khăn trải giường thẳng nếp. Sàn nhà sạch
bóng. Quần áo, đồ đạc cá nhân đều xếp trong các ngăn tủ sắt. Phòng ăn của trại
là một gian phòng lớn gồm những dãy bàn dài. Đâu đâu cũng sạch sẽ, ngăn nắp, gọn
gàng. Đó là những bài học căn bản đầu tiên làm thay đổi sinh hoạt cá nhân của
Eric sau này. Bà ngoại kể thằng này hồi còn ở nhà, nó ở dơ và bừa bãi. Mỗi sáng
sau khi nó đi học, bà đều phải vào phòng dọn dẹp, thu dọn chai nước, thức ăn thừa,
quần áo dơ, sách vở, giấy rác, xếp mền gối, trải giường. Bây giờ nó đã được giáo dục theo kỷ luật nề nếp của trại. Nó
thay đổi thành một con người mới có trách nhiệm với bản thân và có lối sống
tích cực hơn. Nó kể học viên mỗi lần khi đi ngoài đường, muốn gọi điện thoại phải
kiếm chỗ ngồi, không được vừa đi vừa gọi xí xô xí xào như trước đây. Khi đi bộ,
trong khi mọi người tìm lối đi tắt cho đỡ mỏi chân, Eric phải đi một vòng khá
xa tìm cái “crosswalk” chứ không tạt ngang, xé lẻ cho gần như thói quen của bà
con mình. Kỷ luật quân đội ở đâu cũng vậy. Đó là một thứ kỷ luật sắt, có nguyên tắc nhất
định, “gò” con người vào khuôn khổ. Người nào vượt qua được là đã tự chiến thắng
mình bước đầu để sau này trở thành người có bản lĩnh và có cách ứng xử đẹp trong
cuộc sống.
Đồng hồ chỉ 4 giờ. Bà ngoại ôm nó khóc mùi mẫn.
Bây giờ mới thấy mẹ nó sụt sùi, mắt mũi đỏ hoe. Ai cũng bùi ngùi, xót xa khi
chia tay với Eric. Jasmine thấy “má nhại” và mẹ Eric khóc, nó cũng khóc theo.
Thằng Dustin nét mặt buồn xo, nắm tay anh Eric. Cậu Phi cố gắng cười, nói lời tạm
biệt mà nét mặt như…mếu. Mợ Sophie ôm và an ủi sẽ sắp xếp đi thăm khi Eric ổn định
ở căn cứ mới. Vài ngày nữa, Eric sẽ cùng các bạn đi bằng xe bus đến căn cứ ở
Wichita học ngành chuyên môn. Ở đó, nó được thoải mái hơn như tự do xài tiền,
đi lại, nhận quà, ăn uống, dùng phone… Nó bịn rịn ôm và vỗ vai bà ngoại. Nó ôm
hun mẹ nó thật lâu. Nó không khóc. Ánh mắt của nó thoáng một chút buồn xa xăm.
Những ngón tay vẫy chào. Xe lăn bánh một đoạn thật xa, quay đầu nhìn lại, tôi vẫn
thấy Eric còn đứng đó, dõi mắt nhìn theo. Một thằng “tough guy” chọn học ngành
chất nổ, bom, mìn như nó không phải là đứa vô cảm.
Trên đường về, tôi nhớ có lần tôi hỏi Eric tại sao con chọn học ngành
này.Thằng nhỏ trả lời đơn giản: “I hate terrorists. Iwant to fight them”. Nó
ghét bọn khủng bố. Nó muốn chống bọn khủng bố. Tôi hỏi tiếp học về ngành này,
nó có biết một nữ khoa học gia người Việt nam rất nổi tiếng có “nickname” là
“The lady bomb” chế tạo một loại bom áp nhiệt “thermobaric” đã giúp sớm chấm dứt
cuộc chiến tranh ở Afghanistan không? Nó mở mắt to, gật đầu, nét mặt rạng rỡ, nụ
cười thật tươi “ Yes, I know. I know her. Unbelievable! She is so wonderful! ”.
Tôi hỏi tiếp nó có ước mơ gì khi chọn
con đường binh nghiệp. Nó nói nếu ai
cũng ước mơ học ngành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ… để kiếm tiền nhiều thì ai đi
lính để bảo vệ nước Mỹ? “I want to protect my country, America. It’s my dream”.
Ước mơ của Eric đơn giản là muốn bảo vệ nước Mỹ. Nước Mỹ bây giờ là quê hương của
nó. Câu nói của Eric làm tôi nhớ đến trong xã hội phong kiến ngày xưa, “sĩ”
luôn luôn ở vị trí hàng đầu “sĩ, nông ,công, thương”. “Lính” không phải là nghề,
cũng không được xem là một giai cấp nên không được coi trọng, không có thứ bậc .
Khi có chiến tranh hay loạn lạc xảy ra mới cần đến lính. Quan niệm về 4 giai cấp,
“sĩ” đứng đầu đã được đảo lộn trong một
bài vè dân gian có tính chất hài hước “ Nhất sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông. Nhất
nông nhì sĩ”.Tuy nhiên, trải qua bao nhiêu thế hệ, quan niệm “sĩ” đã trở thành
thâm căn cố đế trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ Việt nam. Ai cũng muốn cho con
em mình trở thành những “sĩ”. Rất ít các bậc cha mẹ hướng con mình đi theo con
đường binh nghiệp. Ở một khía cạnh nào đó, thằng Eric nói đúng. Nếu ai cũng là
“sĩ’ cả thì lấy ai bảo vệ đất nước này?
Chỉ có hai ngày đi thăm Eric, một anh
lính mới tò te trong môi trường xa lạ là
căn cứ huấn
luyện tân binh Lackland, tôi đã nhìn thấy tận mắt một phần nhỏ sinh hoạt và học
hỏi biết bao điều mới lạ về đời lính Mỹ.Thằng nhỏ đã cho tôi có một sự đánh giá
lại về hai chữ “giá trị” các ngành nghề trong xã hội trong đó có nghề lính.
Eric cho
tôi có một cái nhìn mới về các từ ngữ “lý tưởng”, “ước mơ”. Eric tự nguyện đi
lính vì lý tưởng chống khủng bố và ước mơ bảo vệ đất nước Hoa kỳ. Lý tưởng cao
quý nhất là lý tưởng đơn giản nhất. Ước mơ đẹp nhất là ước mơ bình thường nhất.
Lời tạm biệt của tôi khi chia tay với Eric
là niềm tin và lời chúc Eric sẽ thành công, thực hiện ước mơ và lý tưởng của nó
trên con đường binh nghiệp. Có nhiều những người Mỹ gốc Việt nay trở thành những
nhân vật nổi tiếng như Tư lệnh hạm đội Hoa kỳ, Trung tá Paul Longmy Choate chỉ
huy chiến hạm nguyên tử hạt nhân USS-CVN-74. “The refugee come home”, Đại tá Lê
bá Hùng, chỉ huy khu trục hạm Uss Lassen, 38 năm sau trở về thăm lại Đà nẵng
quê hương ông. Thiếu tá Elizabeth Phạm, người nữ phi công gốc Việt đầu tiên lái
chiếc F-18 trên chiến trường Iraq. Dương Nguyệt Ánh, người phụ nữ tài đức tuyệt
vời đã làm rạng rỡ người Việt nam trên đất nước Mỹ...Và còn nhiều, nhiều lắm những
bàn tay và khối óc của những người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba
đang âm thầm đóng góp cho nền an ninh quốc phòng và bảo vệ đất nước Hoa kỳ
trong đó có Eric.
Cầu mong cho thằng cháu Eric bây giờ
đang là một tân binh, biết đâu 10, 20, 30 năm nữa, nó sẽ là một Dương Nguyệt
Ánh thứ hai với “nickname” “Eric bomb”!
Cầu mong cho nước Mỹ có nhiều người
lính Mỹ gốc Việt như Eric “Xin nhận nơi này là quê hương”, nuôi lý tưởng và ước
mơ bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình cho nước Mỹ và cho nhân loại trên thế giới
này.
Phùng Annie Kim
No comments:
Post a Comment