Sunday, September 21, 2014

CHÚ LÍNH MỸ GỐC VIỆT

                                                
                                                   
                                          CHÚ LÍNH MỸ GỐC VIỆT             
          Thằng nhỏ đi từ xa trong bộ quân phục, bước đi của nó mạnh mẽ, vững chãi. Bà ngoại và má nó trông đứng trông ngồi từ sáng nay để mong gặp nó. Nó đến gần, bà chạy ra ôm, hun nó tới tấp, nước mắt nước mũi, sụt xà sụt xịt. Bà mếu máo:
         -Sao con ốm quá vậy con? Con đen thui à. Có đói bụng không? Ngoại có đem đồ ăn cho con nè. Con chào dì Ánh, cậu mợ Phi đi. Có hai em đi thăm con nè. Jasmine, Dustin ra đây ôm anh, hun anh một cái nha. Má nó đứng sau lưng, bóp hai bờ vai nó nhè nhẹ. Nó quay đầu phía sau cho má nó hun một lúc thật lâu.
          Tôi ngồi nhìn thằng nhỏ. Mới ngày nào tôi đến nhà Sophie con gái tôi ở Cali dự sinh nhật đứa cháu ngoại. Lúc đó nó còn bé xí, bây giờ nó là một thanh niên cao lớn, chững chạc, mặc bộ đồng phục áo trắng quần xanh đen, đội chiếc mũ thuyền có mũi nhọn, đeo phù hiệu trên ngực, giầy đen bóng loáng, tôi nhận không ra. Bà ngoại lăng xăng bên cạnh hỏi han thằng nhỏ. Má nó, tôi và hai vợ chồng Phi ngồi nghe nó  kể chuyện đời lính .
           Bà Lụa là thông gia với tôi. Tôi đi thăm con gái ở Dallas. Bà và má nó bay lên Dallas nhờ Phi chở đến San Antonio thăm Eric là đứa đang ngồi trước mặt tôi . Tình cờ gặp bà ở nhà con gái, tôi theo bà và gia đình thằng con rể lái xe mất 4 tiếng đồng hồ đến căn cứ không quân Lackland ở San Antonio. Eric đang được huấn luyện quân sự tai đây.Ngày mai là ngày lễ ra trường, sau đó nó sẽ được đổi đi đến đơn vị khác để tiếp tục học ngành chuyên môn.
     Bà Lụa ngồi nắn tay, nắn vai nó, xin nó cho “má nhại” hun thêm vài cái nữa, mắt bà vẫn đỏ hoe. Thằng nhỏ có vẻ mắc cỡ trước mặt người lạ. Nó nghiêng đầu tránh và nói: “ Má nhại đừng hun con nữa, That’s enough!”. Bà nuôi nó từ hồi còn nhỏ cho đến lớn. Sống gần bà nên nó hiểu tiếng Việt. Nó nói tiếng Việt xen lẫn tiếng Mỹ và thích thức ăn Việt nam.“Má nhại” là “nickname” của bà  đọc trại từ chữ “bà ngoại” mà ra. Đám cháu ngoại, và cháu nội kêu “má nhại” riết rồi quen. Bà thích gọi cái tên “má nhại” vì chữ này là chữ của bà “chế” ra để nựng nịu tụi nhỏ.
     Bà rờ cái eo bụng nó, lại mếu máo:
     _ Con ốm quá con ơi! Họ cho  con ăn uống có đầy đủ không con? “Má nhại” biết con tập cực khổ lắm mà. Con thích cơm chiên, “má nhại” đem cho con ăn nè. “Má nhại” đem thịt kho, giò, chả, thịt chà bông, cá chiên, gỏi cuốn…”Má nhại” có đem thịt bò chiên cho con nữa. Ăn đi con. Ăn hết đi con.
     Đi thăm cháu, bà và má nó vô bếp làm thức ăn từ mấy ngày trước. Nó viết thư về kể thèm đủ thứ nhất là phở. Giống như hầu hết các bà, má Việt nam khi gặp con cháu, những câu hỏi đầu tiên là “Con ăn gì chưa? Con có đói không?” Tình thương của các bà gắn liền với cái…bao tử của con, cháu. Bà lăng xăng với các giỏ thức ăn bà, má nó và con gái tôi làm từ hôm trước để sáng hôm sau mang cho nó ăn và ở chơi với nó trong hai ngày. Thằng con rể  đã đặt trước khách sạn “Air Force Inns” ba phòng trong căn cứ để tiện việc đi lại mỗi phòng 53$ . Muốn vào căn cứ phải qua bộ phận kiểm tra an ninh bằng thẻ ID, số an sinh xã hội và cho biết số người đi là bao nhiêu. Các chi tiết này phải ghi danh trước. Khi được chấp thuận, họ gửi một tờ giấy gọi là “guest pass” để ra vào trại. Những người không có “guess pass” phải sắp hàng chờ làm thủ tục xin phép ở “Visitor Center” ngay cổng vào rất mất thì giờ.
      Thằng nhỏ ngồi ăn ngon lành. Nó ăn như đã thèm từ lâu lắm. Nhờ má nó và bà ngoại lên thăm, nó có cơ hội ăn xả láng thức ăn Việt nam, những món nó thích. Món nào ăn cũng khen ngon . Vừa ăn nó vừa kể chuyện về hai tháng “huấn nhục” ở căn cứ huấn luyện các tân binh có tên là “Lackland Air Force Base”, căn cứ Không quân Lackland.
      Lackland là tên của Thiếu tướng Frank Dorwin Lackland, một trong những người tiên phong trong ngành bay, phục vụ ngành không quân trong thế giới đại chiến thứ hai và có công trong việc xây dựng căn cứ này.Trước năm 1975, đây là nơi huấn luyện căn bản cho các phi công Việt nam trong thời chiến tranh. Căn cứ này chuyên trách huấn luyện các loại máy bay B52, F4 Phantom, Blackbird... và các loại máy bay quân sự khác Nó được ví như trung tâm của một cái bánh xe có 7 cái căm, mỗi căm xe là một bộ phận phụ trách một nhiệm vụ thí dụ như bộ phận “802 nd Mission Support Group” làm công việc phục vụ và cung cấp các dịch vụ và các sinh hoạt trong quân đội, bộ phận “737 th Training Group” làm công việc huấn luyện các phi công chuyên ngành, bộ phận “Defense Language Institute” dạy tiếng Mỹ cho các phi công Đồng minh, bộ phận “Air Force Interligence, Surveillance and Reconaissance” chuyên huấn luyện các sĩ quan chỉ huy chiến đấu. (Combattant commanders), bộ phận “ 24 th Air Force” điều hành và bảo vệ lực lượng không quân của Bộ Quốc phòng, bộ phận Inter-American Air Force” dạy 37 khóa kỹ thuật bằng tiếng Tây ban nha và tiếng Anh cho sinh viên các nước, cuối cùng là bộ phận “37th Training Group” là bộ phận cung cấp kiến thức và huấn luyện về chuyên môn cho các tân binh trong các ngành kỹ thuật và quốc phòng. Họ giúp cho người sinh viên tốt nghiệp có những kỹ năng, kỹ xảo có thể tìm việc làm hoặc đi vào chuyên ngành dễ dàng. Bộ phận này còn phụ trách huấn luyện cho các binh chủng không quân, hải quân, thủy quân lục chiến, đặc biệt nhất là các chú quân khuyển “ military walking dog”. Đội quân AFOSI (Air Force Office of Special Investigations) chuyên điều tra tội phạm như gián điệp, khủng bố cũng được huấn luyện tại đây. Eric là một trong 200 sinh viên được bộ phận này “huấn nhục” trong 2 tháng gọi là “Basic Military Training” viết tắt là “ BMT”, khóa huấn luyện quân sự căn bản.
     Cả nhà ăn trưa chung với Eric trong phòng cậu Phi. Lâu ngày gặp nhau, Eric đùa giỡn với Jasmine và Dustin. Hai đứa đè gối và ngồi lên bụng anh Eric. Eric nói cái mình nó bằng sắt tha hồ cho hai đứa nhỏ đánh, đấm ,đập, thụi. Một lát hai đứa ngồi thở  hồng hộc. Anh Eric nắm bốn bàn tay hai đứa cứng ngắc. Không vùng vẫy được, cả hai mếu máo với “má nhại” anh Eric làm con đau. Cậu Phi thử nắn hai bắp tay nó.  Cậu nói nhờ tập luyện, hai bắp tay nó nở nang như hai bắp chuối hột và cứng như hai khúc gỗ.
      Tôi nhìn thằng nhỏ vừa tốt nghiệp trung học nhưng nét mặt ra vẻ một người đàn ông phong trần. Trông nó khỏe mạnh, làn da rám nắng, tóc húi cua sát da như đầu trọc,  thân hình của nó cứng cát, vai to, ngực nở, eo thon, hai bắp thịt ở hai cánh tay vồng lên, săn chắc. Eric có nụ cười thật trẻ thơ, khi cười, khuôn mặt nó sáng hẳn lên. Bà ngoại lại gần, xót xa ôm cái  bụng hỏi nó : 
      -Bụng con bây giờ xẹp lép, con mặc quần “size” mấy? “Má nhại” nhớ size cũ của con là 34? Con sụt bao nhiêu pound? Tội nghiệp con, “má nhại” nhớ con quá. Ráng học nghen con. Con chuyển sang trại mới, “má nhại” gửi đồ ăn cho con. Đừng vi phạm kỷ luật nha con.
Thằng nhỏ nhăn mặt hỏi:
     - “Má nhại”,“Vi phạm kỷ luật” là gì? “ I don’t understand it.”
 Cậu Phi nó giải thích:
         -Là “ Don’t break the rules”. You must be a good guy. Ok?
         Nói đến đây bà lại rơm rớm nước mắt.Thằng nhỏ này coi bộ gắn bó và thương bà ngoại, nó vỗ vai bà nhè nhẹ:
       -“Má nhại”, Đừng khóc! Don’t cry! Con muốn “má nhại cười. Con vẫn khỏe mà! Con mặc quần “size” 29. Con “lose weight”nhưng đâu có sao! “Lose weight” tốt! “Má nhại”, Don’t worry about me”. “ I grow up. I am a big man now.”. Nói xong, nó gồng hai bắp tay, hai con chuột căng lên cuồn cuộn như một lực sĩ khoe trước mặt má nó làm bà ngoại phì cười.
        Bà ngoại và cậu Phi liên tục hỏi về đời sống của nó trong trại. Thằng nhỏ kể đủ chuyện bằng tiếng Việt lẫn tiếng Mỹ. Có khi nó nói tiếng Mỹ, bà ngoại không hiểu
phải hỏi cậu Phi. Thằng nhỏ kể những bước đầu tiên vào đời lính của nó là sự tập luyện để có một thân thể khỏe mạnh, dẻo dai thích nghi với hai tháng thử thách cam go và khóa học chuyên môn sắp tới. Nó kể tới đâu bà ngoại chép miệng, xuýt xoa tới đó. Má nó ít nói, nét mặt lúc nào cũng trầm ngâm. Bà xót cháu bà là phải vì sống bên cạnh bà, nó được cưng chiều, sung sướng, an nhàn, đầy đủ quen rồi. Những ngày tập luyện gian khổ ở đây sẽ giúp nó trưởng thành và học nhiều kinh nghiệm sống. Đời nó còn dài, kinh nghiệm nào cũng phải học và trả giá. “No pain, no gain”.
        Hai tháng “huấn nhục” hay còn gọi là hai tháng hành xác”này nhằm mục đích luyện cho các học viên sức chịu đựng bằng những buổi dậy sớm làm vệ sinh cho nhanh rồi tập thể dục. Ăn sáng xong, tùy theo ngày, các huấn luyện viên cho học viên ra bãi tập, tập đi, đứng, tập chạy, tập nhào lộn, tập nhảy cao, tập leo giây, tập leo tường, tập trườn, bò dưới những hàng dây kẽm gai sắc nhọn, tập phóng qua các chướng ngại vật, tập lội qua những bãi sình lầy, tập hít hơi ngạt…dưới cái nắng và cái nóng gay gắt của thời tiết vùng Texas lúc nào vào khoảng trên 80 độ F. Trời mưa thì mặc trời mưa. Các buổi tập ngoài trời vẫn theo thời khóa biểu quy định. Bệnh thì có bệnh viện, bác sĩ, thuốc men. Mỗi huấn luyện viên phụ trách một nhóm khoảng 50 người. Ăn trưa xong, các học viên được nghỉ ngơi hơn một tiếng đồng hồ. Buổi chiều là những giờ học lý thuyết, ăn tối, sinh hoạt cá nhân rồi lên giường lúc 9 giờ. Tất cả các sinh hoạt ăn, ngủ, học, tập luyện, nghỉ ngơi đều có giờ giấc. Học viên nào trễ hay vi phạm kỷ luật, cả nhóm sẽ bị phạt mất phần ăn trưa. Nhờ đi lính, thằng nhỏ biết được thế nào là đói. Nó và các bạn thường xuyên  đói bụng vì sức trai đang lớn, ăn nhiều nhưng phần ăn chỉ có giới hạn, chỉ vừa đủ no, dù có tiền nhưng không được phép mua thức ăn trong trại. Nước Mỹ là nước giàu, dư thừa thực phẩm, làm gì có chuyện tân binh ăn đói ? Thằng này, hồi chưa đí lính, bà ngoại kể  nó ăn như… hạm và kén ăn . Ở ngoài đời, các cậu ăn uống ngon quen rồi, có khi thừa mứa. Vô trại tập luyện này, khẩu phần ăn đều có tính toán, chỉ đủ về dinh dưỡng cho các cậu có sức khỏe để tập luyện, làm sao ăn ngon như …bà, má nấu ở nhà?. Có thể đây cũng là mục đích cho các cậu có kinh nghiệm kham khổ để xem có chịu đựng nổi những đòi hỏi của cái bao tử không? Đời lính, có khi phải chiến đấu trong rừng sâu núi thẳm, nhịn ăn hoặc ăn đói là chuyện bình thường. Hồi sáng, tôi nhìn nó ăn thịt thật ngon lành. Nếu cái bao tử còn chứa được, nó còn tiếp tục ăn nữa. Nó kể nó thèm ăn thịt lắm, nhất là thịt bò chiên và phở.
       Theo lời Eric kể, thực đơn của các học viên chất bột là chính, gần như ít có thịt, rau ,quả, sữa đầy đủ. Ngày chủ nhật mới có phô- mai. Mỗi tháng, tự động trong chương mục ngân hàng của nó có hơn 800$. Số tiền này chính phủ cho. Gọi là “cho” nhưng để các học viên dùng để trang trải các chi phí cá nhân như tiền giặt ủi mỗi tháng 250$ ( hèn chi các học viên đứa nào quần áo cũng sạch sẽ, tươm tất, láng cón)  tiền ăn mỗi ngày 10$, tính lại chi xài  cho cá nhân đâu còn bao nhiêu? Nếu ở ngoài đời có hai chữ “ăn” và “chơi” thì trong trại lính này chỉ có hai chữ “học”và “tập”. Nếu ở ngoài đời lè phè, chậm chạp, bừa bãi, vô kỷ luật thì sau khóa huấn luyện này, học viên  sẽ thay đổi cách sống, trở nên nhanh nhẹn, nghiêm túc, nề nếp. Học viên không được giữ điện thoại cầm tay, không được liên lạc bên ngoài, mỗi tháng được gọi tối đa 15 phút và có thể viết thư cho gia đình. Sau hai tháng huấn luyện sẽ có một kỳ thi, nếu đậu, được ưu tiên chọn chuyên ngành, nếu rớt, họ cho học ngành nào thì phải chịu.  Thằng Eric coi vậy mà gan cùng mình. Đăng ký vô lính, nó chọn ngành…  chất nổ và  bom mìn. Bởi vậy mẹ và bà ngoại nó khóc hoài. Ở xứ Mỹ này, con cái trên 18 tuổi coi như trưởng thành và có trách nhiệm với bản thân nên nó tự chọn, cha mẹ không bắt buộc như kiểu gia trưởng ở Việt nam “áo mặc không qua khỏi đầu”. Bà ngoại và mẹ nó khuyên chọn ngành khác an nhàn và ít nguy hiểm hơn nhưng nó nhất định đi theo ngành này. Nhìn bề ngoài trông nó hiền lành, ít nói, đôi khi lạnh lùng nhưng bên trong nó thật  là một thằng “tough guy”. Tôi nghe nó chọn ngành này mà …giật cả mình!
       Đí lính Mỹ không phải dễ. Yêu cầu trước hết là thể lực. Ngoài sự huấn luyện về thể chất, học viên tùy theo trình độ, sở thích, kỹ năng chọn lựa các ngành thích hợp. Ngành nào cũng phải học tóe khói, tập bở hơi tai, cuối khóa có kỳ thi tốt nghiệp. Khi ra trường, học viên tùy theo trại có nhu cầu, có thể ở lại  học tiếp hoặc thuyên chuyển đến căn cứ khác.  Học viên nào ở lại được chọn học trong sáu ngành. Có 6 liên đội chuyên huấn luyện về  kỹ thuật ( Technical Training Squadrons) để cho các học viên chọn lựa chẳng hạn như liên đội 37 th TRG huấn luyện các học viên sau này trở thành những người dạy kỹ thuật hoặc các nhà lãnh đạo, liên đội 341 nd TRS huấn luyện và đào tạo cho bộ Quốc phòng các “handlers” là những người dẫn chó đi bắt tội phạm hoặc kiểm tra ma túy ở phi trường, liên đội 342 nd huấn luyện và đào tạo các “Pararescuemen”, những người  này nhận các sứ mệnh lớn lao, nguy hiểm và chịu trách nhiệm trước Tổng Thống (chẳng hạn như phối hợp bắt Bin Laden trùm khủng bố). “Pararescuemen” là những người phải biết “mưu sinh thoát hiểm”, giỏi các kỹ năng như nhảy dù, lặn sâu, leo núi, lái “snowmobile”( là loại xe lái trên tuyết và  lướt trên nước). Họ là hình ảnh nhân vật James Bond 007 ở ngoài đời. Họ cứu phi công lâm nạn, xâm nhập vào hang ổ địch, nhảy dù xuống các vùng đất nguy hiểm, cung cấp tin tức chiến lược cho các đơn vị không quân và lục quân định hướng để di chuyển đến các vị trí chiến đấu. “SERE’ là tên gọi các công việc của họ: “Survival, Evasion, Rescue, Escape”. Ngoài ra còn có liên đội 343 rd huấn luyện và đào tạo các nhân viên an ninh, liên đội 344 th TRS huấn luyện các chuyên viên máy móc trong ngành hàng không, bảo trì các loại xe thiết giáp, chuyên chở các trang thiết bị, xử lý các hóa chất độc hại và chất nổ phế thải…
         .Khởi hành từ 7 giờ nhưng vì  kẹt xe nên gia đình đến trễ, không được dự lễ cấp chứng chỉ tốt nghiệp của Eric. Buổi lễ chính thức là buổi lễ ra trường sáng hôm sau. Cả nữa ngày, Eric dẫn gia đình 6 người đi xem căn cứ Lackland.
        Phải gọi căn cứ này là một thành phố vì nó rộng lớn quá với diện tích khoảng gần 7000 acres. Lúc đầu chỉ có trại “Kelly Field” là một trại lính nhỏ, chung quanh là vùng đất đầy muỗi mòng, đá và rắn, các phi công dùng vùng đất hoang vu này để tập luyện thả bom và đặt tên nó là “The Hill”. Tướng Lackland nhìn thấy đây là vùng đất thuận lợi nên có kế hoạch bành trướng thành một căn cứ huấn luyện quy mô. Căn cứ mang tên Lackland để tưởng niệm công lao này của ông. Từ khi thành lập năm 1941 đến nay, căn cứ này đã huấn luyện cả triệu học viên ra trường. Cư dân sinh sống trong căn cứ  có khoảng 7000 người gồm có dân sự và học viên, 412 đơn vị gia cư, 152 gia đình, lợi tức trung bình khoảng 32.000 một năm. Thành phần chủng tộc ở đây gồm 65% Mỹ trắng, 20% Mỹ đen, 4% người bản xứ (native American) còn lại là các sắc dân khác.
        Lối đi vào trại có hai cổng chính, “Selfridge west gate” ở  hướng Tây và  “Bergouist gate” ở hướng Đông . Con đường lớn nhất mang tên “Military drive” chạy dài từ Bắc xuống Nam chia căn cứ này làm hai “thành phố” nhỏ trong đó có những con đường dọc, ngang như bàn cờ. Có nhiều khách sạn sang trọng như “Mariotte”, các phòng trọ “Inns” vừa túi tiền, các bệnh viện, tiệm thuốc, nhà trẻ, nhà hàng, siêu thị, building, sân chơi, hồ bơi, tiệm giặt ủi, hội đua ngựa, nhà thờ trường học, công viên “Lion Park”, các trung tâm thương mại (mall), trung tâm thể dục thẩm mỹ (fitness center), trung tâm sinh hoạt cộng đồng (community center)… Vận động trường “ Parade Grounds” là nơi sẽ tổ chức lễ ra trường nằm trong khu này. Không xa “thành phố” là các trại lính rộng mênh mông gồm tổng hành dinh “headquarter” nơi chỉ huy các đội huấn luyện và điều hành các hoạt động về quân sự , các tòa building lớn trong đó có đơn vị gìn giữ an ninh, phòng ăn, phòng ngủ, phòng sinh hoạt của các học viên. Gần đó là sở cứu hỏa, phòng giặt, nhà vệ sinh, bãi tập, nhà kho, nhà ở của cư dân làm việc trong căn cứ.
     Sau nhiều giờ đi thăm “thành phố” Lackland, đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tận mắt một căn cứ quân sự quy mô và tiêu biểu, xứng đáng là một trong những căn cứ lớn nhất ở nước Mỹ với danh hiệu “The Gateway to the Air Force”, cửa ngõ đến với  lực lượng không quân Hoa kỳ.
      Đi chơi một vòng thăm trại, ai nấy đều mỏi mệt, trở về nghỉ ngơi, chuẩn bị ăn cơm tối dưới phố. San Antonio được xem là thành phố du lịch có nhiều phong cảnh đẹp, nhiều di tích lịch sử, có truyền thống văn hóa lâu đời với các lễ hội, diễn hành, tiệc tùng, ca hát... Đây là thành phố đông dân cư lớn thứ bảy ở nước Mỹ 1.300.000 ngàn người và thứ hai sau Houston ở Texas.  Quảng trường “River Center” là  trung tâm sinh hoạt chính lúc nào cũng sầm uất, nhộn nhịp.  Các thương hiệu nổi tiếng như “Macy’s”,“Starbucks”, “Victoria Secret’s”…đều tập trung tại đây. Có hàng trăm nhà hàng lớn, nhỏ, sang trọng hoặc trung bình với thực đơn truyền thống của Thái, Mễ, Nhật, Mỹ, Ấn Độ. Các cửa hàng buôn bán, phục vụ, giải trí…lúc nào cũng đầy người.Trai thanh nữ tú cặp kè qua lại. Khách du lịch, thân nhân đi thăm học viên đến San Antonio không lúc nào ngớt. Phong cảnh hữu tình  nhất có lẽ là “River Walk”, con đường quanh co, khá dài, dành cho người đi bộ, lót gạch hoặc trát xi măng, cây cối xanh tươi, hoa lá đủ màu, sạch sẽ và râm mát. Dọc theo con đường, một bên là sông nước uốn lượn xuôi dòng một bên là những nhà hàng lộ thiên xây trên những dốc cao với những chiếc dù xanh đỏ che nắng xinh xắn. Gia đình 8 người chúng tôi lên một chiếc tàu nhỏ , giá vé khoảng 8 đồng cho mỗi người. Chiếc tàu chở khoảng 20 hành khách chạy dọc theo dòng  sông khoảng nửa tiếng đồng hồ. Khách bộ hành vừa đi vừa ngắm những cây cổ thụ tàn lá xum xuê soi bóng bên bờ sông. Khách ngồi trên thuyền, vừa nghe người “tour guide” kể chuyện về lịch sử thành phố, vừa ngắm bầu trời xanh, cây cảnh, nóc nhà thờ, trang trại (ranchos) và những ngôi nhà cổ trên dốc cao. Phong cảnh thật là đẹp và nên thơ.  Ban đêm, con đường rực rỡ ánh đèn. Tiếng đàn guitar với điệu nhạc “flamenco” và những bài hát trữ tình bằng tiếng Tây ban nha vang lên từ những nhà hàng, hộp đêm. Các ban nhạc “live show” với các nhạc sĩ trình diễn ngoài trời làm cho khu “River Center by night” thật quyến rũ, thơ mộng và sống động.
Theo kinh nghiệm của Eric, nó chọn một nhà hàng Mỹ vừa là một “museum” nhỏ có ưu tiên cho các học viên tên là “Buckcorn Saloon and Museum”. Học viên vào ăn ở nhà hàng này được phát một cái thẻ trong đó các học viên được phép trở về trại lúc mười giờ thay vì tám giờ theo quy định. Nghe Eric nói vậy, ai cũng ngạc nhiên.  Thức ăn khộng có gì đặc biệt, quanh đi quẩn lại là steak, hamburger, taco, salad, chips, sauce… và nước uống vậy mà phải trả 25$ một người. Trẻ em và người lớn cùng giá. Ngoài ăn uống, có những trò chơi đặc biệt bằng kỹ thuật cao tạo ảo giác như làm cho người mình thu nhỏ lại hay tạo bóng mình trên tường…Nhà hàng đông người, khách ra vô nườm nượp, hầu hết là những thân nhân muốn có thêm hai tiếng đồng hồ quý giá với con em mình. Ăn xong, ai cũng tiếc tiền nhưng vui vì có các trò chơi lạ và “lá bùa” thêm hai tiếng đồng hồ đi thăm thành phố San Antonio với Eric.
         San Antonio là thành phố đẹp, cổ kính, nhà cửa xinh xắn ảnh hưởng kiến trúc Tây ban nha với đường nét hình vòng cung và các hoa văn trang trí tinh xảo. Là thành phố du lịch, mỗi năm thu hút khoảng 26 triệu du khách với những địa danh lịch sử và những thắng cảnh như “Mission Alamo”, “River walk”, “Sea world”, “Six Plags Fiesta…San Antonio còn là nơi có nhiều căn cứ quân sự nổi tiếng như “Fort Sam Houston”, “Lackland Air Force Base”, “Randolph Air Force Base”…Đội bóng rổ “San Antonio Spurs” nổi tiếng với 4 lần vô địch giải NBA. 
        Gần 10 giờ đêm, khu “River Center” vẫn đông người qua lại. Chúng tôi phải trở về  đúng 10 giờ quy định. Eric trở về trại còn gia đình chúng tôi về phòng trọ “Gateway Villa” thuộc “Air Force Inns” gần đó để nghỉ ngơi. Ai nấy đều mỏi mệt, đánh một giấc ngủ thật ngon sau một ngày đi chơi thú vị với với Eric. 
Sáng hôm sau, cả nhà đều dậy sớm. Ăn sáng xong, chúng tôi  tập trung đến trạm xe bus gần đó để cùng với các thân nhân lên xe đến “Parade Grounds” là nơi diễn ra cuộc diễn hành. Từ khu “Gateway Villa” là khu nhà trọ  đến vận động trường “Parade Grounds” qua nhiều đoạn đường khá xa nên các phương tiện chuyên chở công cộng như xe bus thật là tiện lợi. Khi chúng tôi đến, vận động trường đã khá đông người. Ai cũng ăn mặc đẹp để chụp hình. Ai cũng muốn đến sớm để có chỗ tốt gần chỗ duyệt binh. Thân nhân được xếp ngồi theo ngành học của học viên. Học viên học ngành nào, thân nhân được xếp ngồi theo từng khu vực để lát nữa khi các học viên đi qua, họ sẽ xướng tên các liên đội (squadron), thân nhân sẽ nhìn thấy con em mình diễn hành  trong đó . Đây là một thảm cỏ xanh rộng mênh mông  có những lối đi bằng xi  măng cho người đi bộ. Chung quanh vòng đai sân là bãi đậu xe.Vài chục chiếc máy bay đủ loại, đủ cỡ lớn nhỏ được trưng bày  làm cho khung cảnh’”Parade Grounds” thêm phần hùng tráng, có khí thế, biểu dương lực lượng ngành không lực Hoa Kỳ. Khán đài là một tòa nhà building lớn dành cho các nhân vật lãnh đạo và các cấp chỉ huy làm lễ ra trường. Trước mặt khán đài là cột cờ. Lá cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tung bay trước gió cùng với một hàng cờ xí đủ màu của các nước. Mặt trời mọc cao dần.  Ánh nắng ban mai lan tỏa trong không gian hứa hẹn một ngày gay gắt của thời tiết vùng Texas vào giữa trưa có khi lên đến 100 độ F. Thân nhân được hướng dẫn không đội  nón hay che dù. Họ đã ngồi đầy trên những hàng ghế có mái che như ở trong sân vận động. Mọi người ai cũng nao nức được nhìn thấy rõ con em diễn hành ngang qua chỗ mình ngồi.
          Buổi lễ bắt đầu lúc 9 giờ. Mở đầu là lễ chào quốc kỳ và mặc niệm các chiến sĩ tiếp đó là bài diễn văn của vị chỉ huy căn cứ Lackland . Nhìn lá cờ Hoa kỳ tung bay phất phới, lắng nghe từng lời và tiếng nhạc trầm hùng của bài quốc ca, trong giây phút cúi đầu mặc niệm những chiến sĩ Hoa kỳ đã hy sinh, tôi hồi tưởng lại lịch sử dựng nước Hoa kỳ trải qua các cuộc chiến tranh cách mạng dành độc lập “The American Revolutionary War” (1775- 1783), là cuộc chiến tranh giữa Vương Quốc Anh ( Kingdom of Great Britain) và nước Hoa kỳ vừa mới thành lập gồm 13 nước thuộc địa. Kế đó là “ The Mexican- American War” (1846-1848) cuộc chiến tranh giữa người Mỹ Texans với người Mễ tây cơ. Tiếp theo là cuộc nội chiến tương tàn “ the Civil War”(1861-1865) giữa hai miền Nam Bắc. Thế giới đại chiến thứ nhất (1914-1918), Hoa kỳ tham chiến với các nước Đồng minh Anh, Pháp ,Nga…chống các nước Đức, Áo, Hung…Thế giới đại chiến thứ hai (1939- 1945), Hoa kỳ tham chiến cùng với lực lượng Đồng Minh đánh tan trục Phát- xít Đức-Ý-Nhật. Tại châu Á, Korean War (1950-1953) là cuộc chiến tranh giữa Nam hàn do Hoa kỳ ủng hộ chống lại Bắc hàn do Trung cộng và Nga xô yểm trợ.  Năm 1955, chiến tranh Việt nam giữa hai chủ nghĩa Quốc gia và Cộng sản để rồi kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cho đến ngày nay, cuộc chiến tranh chống độc tài Sadam Hussein ở Iraq đã chấm dứt. Chiến tranh chống khủng bố quốc tế tại Afganistan vẫn đang còn tiếp diễn. Gần đây nhất là cuộc nội chiến giữa các sắc tộc ở Syria, nước Mỹ còn đang quyết định có nên tham chiến hay không. Ai đó đã có câu nói thật là sâu sắc “ Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”. Những căn cứ quân sự trên đất Mỹ  vẫn tiếp tục đào tạo những đứa con cho xứ sở để bảo vệ đất nước này. Tôi tự hỏi trong số những người  thanh niên đang diễn hành lát nữa đây sẽ có những người sau này sẽ ra mặt trận. Ai còn, ai mất? Ai sẽ là người  ra đi không hẹn ngày trở về ?
      Nghĩ đến đây, lòng tôi không thể quên 38 năm trôi qua mà cứ ngỡ như mới ngày nào. 30 tháng 4 năm 1975 mãi mãi vẫn là ngày quốc hận cho những  người Việt tị nạn xa xứ. Những lần về Việt nam, khi đi ngang qua xa lộ Biên hòa, tôi không còn nhìn thấy bức tượng đồng  “Thương Tiếc”, của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu. Hình ảnh người chiến sĩ Việt nam có đôi mắt xa xăm, buồn “u uẩn chiều tiễn biệt”, ngồi trong tư thế nghỉ trên bệ đá, súng để trên đùi. Tiếng hát não lòng của ca sĩ Khánh Ly còn văng vẳng đâu đây “  Anh nằm xuống/ như một lần/ đã đến đây/ đã rong chơi trong cuộc đời này/ đã bay cao trong vòm trời này …” “ Tấm thẻ bài này/ anh để lại làm gì/ Anh để lại đây/ để muôn đời tiếc nhớ hay nuôi thêm hận thù?…” Nghĩa trang Quân đội hay còn gọi là Nghĩa trang Quốc gia nơi an nghỉ của 30.000 quân nhân tử sĩ của 4 vùng chiến thuật, từ các mặt trận Hạ Lào, An Lộc, Mậu Thân…Họ là những người thanh niên “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt. Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung” được đào tạo từ trung tâm huấn luyện Quang Trung ở  Hóc môn, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, trung tâm huấn luyện Đồng Đế Nha trang, TrườngVõ Bị Quốc gia Đà Lạt. Hình ảnh hào hùng của họ trong những cuộc diễn hành xa xưa vẫn còn ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi. Ngồi trên khán đài dự lễ ra trường của những người lính Mỹ trong đó có những người gốc là người Việt nam như thằng Eric, nó đâu có biết gì về đất nước Việt nam, về chiến tranh Việt nam, về những người lính Việt nam Cộng hòa? Nó đi lính cho đất nước Hoa kỳ. Nó là người lính Mỹ, chiến đấu và hy sinh cho đất nước này. Cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm để lại con số 58.000 người lính Mỹ tử trận. Tên tuổi những người lính này được ghi nhớ tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington tại Washington DC. Còn những người chiến sĩ Việt nam Cộng hòa đã hy sinh trước 30 tháng 4 năm 1975, họ có được an nghỉ ngàn thu ở một vùng  đất nơi họ gọi bằng hai tiếng quê hương? Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa sau 1975 đã bị sử dụng làm doanh trại Quân đội nhân dân, nhà máy nước Bình an, các cơ sở tiểu công nghệ dựng lên quanh đó, dân cư lấn chiếm đất làm nhà, các ngôi mộ bị đập phá hay dời đi nơi khác. Nơi an nghỉ của người nằm xuống bây giờ tiêu điều, hoang tàn và xơ xác có khác gì lòng người Việt nam ly tán, mất mát, tha hương theo vận nước nổi trôi.
        Tôi nhìn những chiếc máy bay đậu chung quanh vận động trường, những bộ quân phục thẳng nếp, những khuôn mặt trẻ, nghiêm nghị của các tân binh, bài diễn văn hùng hồn của vị chỉ huy trưởng căn cứ Lackland, tiếng quân nhạc hùng tráng gợi nhớ đến thảm cảnh chiến tranh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới. Người Mỹ đã tham chiến với các Đồng minh ở các nước nhưng cuộc chiến tranh chỉ thực sự xảy ra trên đất nước này sau khi hai tòa nhà  “Twin Towers” trong đó có “World Trade Center” ở New York bị quân khủng bố tấn công. Đất nước Hoa kỳ vẫn cần những người tân binh như Eric. Họ sẽ là những người con ưu tú, dũng cảm, hy sinh để bảo vệ  đất nước này.
        Vừa lúc đó, từ chiếc loa phát thanh vang lên lời giới thiệu buổi diễn hành bắt đầu. Mọi người nhìn thấy từ đàng xa. đội quân nhạc đồng phục trắng , nón trắng với tiếng kèn, trống, tiếng“cymbal” xèng xèng vang lên theo từng nhịp bước. Tiếp theo đó là các tân binh mặc đồng phục áo trắng ngắn tay, quần xanh đen, giày đen, đội mũ thuyền xanh đi theo từng đội. Hàng đầu là một dãy 6 người cầm cờ mặt hướng về phía trước, các hàng sau là các tân binh tốt nghiệp, tay mặt giơ ngang trán trong tư thế chào, đầu ngước lên hướng về phía khán đài, chân bước theo nhịp trống và hiệu lệnh của người chỉ huy. Họ đi theo nhịp quân hành, tay đánh nhịp, chân bước đều. Tiếng loa phóng thanh giới thiệu từng liên đội khi đi ngang qua chỗ thân nhân ngồi. Các thân nhân đều đứng lên vỗ tay, huýt sáo, gọi tên, cổ võ tinh thần các tân binh khiến cho bầu không khí thật là phấn khích và náo động.
         Ngồi tại sân vận động tại thành phố San Antonio, lần đầu tiên  tham dự buổi lễ ra trường của các tân binh trong khung cảnh trang nghiêm, hùng tráng với các lễ nghi quân cách  của một đất nước hùng mạnh về quân sự như nước Mỹ làm tôi nhớ đến không khí chiến tranh ở quê nhà cách đây 40 năm. Vào một buổi chiều trời mưa tầm tã, gia đình tôi đến nghĩa trang Quân đội để nhận xác anh Bằng tử trận tại An lộc. Chiều nghĩa trang thật buồn. Những  người đến đây đều có chung một nét mặt u sầu, lặng lẽ. Những bà mẹ mắt đỏ hoe. Những ông bố đăm chiêu, trầm lặng. Những thiếu phụ còn trẻ quấn vội vòng khăn tang trên đầu. Những đứa bé đang quấy khóc còn bế trên tay. Tại khu chung sự vụ, nơi chăm lo việc tống táng lúc nào cũng trắng các vành khăn tang của những người đi nhận xác. Các tử thi được chở về từng đợt bọc trong những chiếc “poncho” màu đen đặt trong phòng lạnh của nhà xác. Mùi tử khí bốc lên nồng nặc.Tiếng khóc rưng rức của má tôi, bác tôi, tiếng khóc òa của ba tôi khi nhận ra xác anh với chiếc thẻ bài còn đeo trên cổ. Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi có cảm giác chiến tranh thật gần và thật tàn nhẫn.Tôi cầm dù đi dưới mưa mà nước mắt ràn rụa khi nhìn khu nghĩa trang từ chiếc cổng tam quan đi vào là ngọn đồi mang tên “Đền Tử sĩ”. “Nghĩa Dũng đài” là đỉnh trung tâm nằm trên một ngọn đồi cao hơn nơi đó có dựng một thanh gươm xây trên một cái bệ tròn chỉa thẳng lên trời. Hình ảnh người chiến sĩ trong bức tượng “Thương Tiếc” toát ra một vẻ bình thản, ung dung, an nghỉ. Chung quanh là những hàng mộ thẳng tắp chạy dài hun hút. Đâu đó tiếng khóc ai oán não nùng vang lên từng hồi. Mưa vẫn còn rơi lác đác. Bầu trời xám xịt. Gió thổi lồng lộng. Hương tàn, khói lạnh. Những chiếc bình hoa khô héo ngã nghiêng. Cỏ dại mọc xanh rì lan trên lối đi. Có những ngôi mộ thấp ngang với mặt đất không còn ghi lại dấu tích gì của người đã khuất. Rải rác đâu đó là những vành khăn tang trắng còn đứng dưới mưa chung quanh những ngôi mộ mới đào.Tất cả chỉ còn là cát bụi.
        Anh Bằng, người anh gọi ba tôi là chú ruột, sống với gia đình tôi từ khi còn nhỏ sau khi bác tôi mất, cái chết của anh, giờ giới nghiêm, tiếng “đại bác ru đêm”, hỏa châu rực sáng, tiếng súng, tiếng đạn pháo kích, nhà cháy, xác Việt cộng và lính Cộng hòa  nằm trên đường phố trong trận Mậu Thân 1968, chiến tranh đã đi vào thế giới chữ nghĩa trong những trang sách của tôi, cô sinh viên đại học Văn khoa tại thành phố Sài gòn. Tôi đã lắng nghe những bản nhạc viết về đời lính của nhạc sĩ Nhật Trường với một cái nhìn khác: cảm thông, chia sẻ ,quý mến và gần gũi hơn với họ. Những hình ảnh đẹp và hào hùng của các chiến sĩ không quân trong bài “Tuyết trắng”, lãng mạn và trữ tình trong bài “Hoa biển”, chân thật và tha thiết trong “Tình thư của lính”…đã làm cho Sài gòn có phong trào “Yêu lính”. “Anh không chết đâu anh” viết về đại úy nhảy dù Nguyễn văn Đương, “Người ở lại Charlie” viết về đại tá nhảy dù Nguyễn đình Bảo…là những tấm lòng tiếc thương, cảm phục và biết ơn những người chiến sĩ đã hy sinh. Nhạc sĩ Nhật Trường sáng tác  nhiều bản nhạc truyền cảm và xúc động về đời lính. Nhạc sĩ Nhật Trường đã giúp tôi rộng mở tấm lòng kính trọng, trân quý và thương mến họ mặc dù lịch sử đã sang trang. Thỉnh thoảng trong những buổi lễ hay diễn hành tại khu cộng đồng người Việt, hình ảnh những bộ quân phục, lá cờ vàng ba sọc đỏ, lời nhạc của bài Quốc ca “ Này công dân ơi…” vẫn làm tôi cảm động rươm rướm nước mắt.   
       Buổi lễ chấm dứt. Eric được phép ra gặp thân nhân. Sau khi ra trường, từ nay nó sẽ mặc bộ quân phục này khi đi ra ngoài. Lúc nào tôi cũng thấy bộ quân phục của nó sạch sẽ, thẳng nếp, giày đen bóng loáng. Nó luôn luôn sửa chiếc mũ thuyền cho thẳng thắn, ngay ngắn. Tôi hỏi nó bằng cách nào, nó chỉ cách mắt nhìn thẳng vào ngón tay trỏ dơ lên cao, đặt trước mũi làm trung tâm, đầu nhọn của chiếc mũ hình cái thuyền phải canh sao cho thẳng với ngón tay. Thảo nào thỉnh thoảng thấy nó dơ ngón tay trước mũi. Cả nhà ghé vào một tiệm “buffet” ăn bao bụng. Má nó nhâm nhi chút ít, chỉ ngồi bên cạnh nhìn con ăn. Còn vài tiếng đồng hồ nữa chúng tôi phải trở về Dallas. Má nó ghé mua cho Eric đôi giày và vài thứ vật dụng trong trại trả bằng tiền mặt. Các cửa hàng này chỉ nhận thẻ của học viên. Các học viên chỉ được dùng thẻ credit của trại cấp để tiêu xài. Bà ngoại, má nó và cậu Phi dúi vào túi nó vài tờ giấy trăm. Eric nói sẽ xin phép bộ phận an ninh cho chúng tôi được đi thăm các phòng ăn và chỗ ngủ của Eric trước khi ra về. Đó là các tòa building lớn nằm trong một khu riêng biệt yên tĩnh xa các khu sinh hoạt và thương mại. Phòng ngủ của các tân binh là những căn phòng lớn. Những dãy giường hẹp chỉ vừa đủ một người nằm thẳng, không có chỗ để lăn qua lăn lại thoải mái. Đặc biệt là mền gối xếp ngay ngắn, khăn trải giường thẳng nếp. Sàn nhà sạch bóng. Quần áo, đồ đạc cá nhân đều xếp trong các ngăn tủ sắt. Phòng ăn của trại là một gian phòng lớn gồm những dãy bàn dài. Đâu đâu cũng sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng. Đó là những bài học căn bản đầu tiên làm thay đổi sinh hoạt cá nhân của Eric sau này. Bà ngoại kể thằng này hồi còn ở nhà, nó ở dơ và bừa bãi. Mỗi sáng sau khi nó đi học, bà đều phải vào phòng dọn dẹp, thu dọn chai nước, thức ăn thừa, quần áo dơ, sách vở, giấy rác, xếp mền gối, trải giường. Bây giờ nó đã  được giáo dục theo kỷ luật nề nếp của trại. Nó thay đổi thành một con người mới có trách nhiệm với bản thân và có lối sống tích cực hơn. Nó kể học viên mỗi lần khi đi ngoài đường, muốn gọi điện thoại phải kiếm chỗ ngồi, không được vừa đi vừa gọi xí xô xí xào như trước đây. Khi đi bộ, trong khi mọi người tìm lối đi tắt cho đỡ mỏi chân, Eric phải đi một vòng khá xa tìm cái “crosswalk” chứ không tạt ngang, xé lẻ cho gần như thói quen của bà con mình. Kỷ luật quân đội ở đâu cũng vậy.  Đó là một thứ kỷ luật sắt, có nguyên tắc nhất định, “gò” con người vào khuôn khổ. Người nào vượt qua được là đã tự chiến thắng mình bước đầu để sau này trở thành người có bản lĩnh và có cách ứng xử đẹp trong cuộc sống.
       Đồng hồ chỉ 4 giờ. Bà ngoại ôm nó khóc mùi mẫn. Bây giờ mới thấy mẹ nó sụt sùi, mắt mũi đỏ hoe. Ai cũng bùi ngùi, xót xa khi chia tay với Eric. Jasmine thấy “má nhại” và mẹ Eric khóc, nó cũng khóc theo. Thằng Dustin nét mặt buồn xo, nắm tay anh Eric. Cậu Phi cố gắng cười, nói lời tạm biệt mà nét mặt như…mếu. Mợ Sophie ôm và an ủi sẽ sắp xếp đi thăm khi Eric ổn định ở căn cứ mới. Vài ngày nữa, Eric sẽ cùng các bạn đi bằng xe bus đến căn cứ ở Wichita học ngành chuyên môn. Ở đó, nó được thoải mái hơn như tự do xài tiền, đi lại, nhận quà, ăn uống, dùng phone… Nó bịn rịn ôm và vỗ vai bà ngoại. Nó ôm hun mẹ nó thật lâu. Nó không khóc. Ánh mắt của nó thoáng một chút buồn xa xăm. Những ngón tay vẫy chào. Xe lăn bánh một đoạn thật xa, quay đầu nhìn lại, tôi vẫn thấy Eric còn đứng đó, dõi mắt nhìn theo. Một thằng “tough guy” chọn học ngành chất nổ, bom, mìn như nó không phải là đứa vô cảm.   
       Trên đường về, tôi nhớ  có lần tôi hỏi Eric tại sao con chọn học ngành này.Thằng nhỏ trả lời đơn giản: “I hate terrorists. Iwant to fight them”. Nó ghét bọn khủng bố. Nó muốn chống bọn khủng bố. Tôi hỏi tiếp học về ngành này, nó có biết một nữ khoa học gia người Việt nam rất nổi tiếng có “nickname” là “The lady bomb” chế tạo một loại bom áp nhiệt “thermobaric” đã giúp sớm chấm dứt cuộc chiến tranh ở Afghanistan không? Nó mở mắt to, gật đầu, nét mặt rạng rỡ, nụ cười thật tươi “ Yes, I know. I know her. Unbelievable! She is so wonderful! ”. Tôi hỏi tiếp nó có ước mơ gì khi  chọn con đường binh nghiệp. Nó  nói nếu ai cũng ước mơ học ngành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ… để kiếm tiền nhiều thì ai đi lính để bảo vệ nước Mỹ? “I want to protect my country, America. It’s my dream”. Ước mơ của Eric đơn giản là muốn bảo vệ nước Mỹ. Nước Mỹ bây giờ là quê hương của nó. Câu nói của Eric làm tôi nhớ đến trong xã hội phong kiến ngày xưa, “sĩ” luôn luôn ở vị trí hàng đầu “sĩ, nông ,công, thương”. “Lính” không phải là nghề, cũng không được xem là một giai cấp nên không được coi trọng, không có thứ bậc . Khi có chiến tranh hay loạn lạc xảy ra mới cần đến lính. Quan niệm về 4 giai cấp, “sĩ” đứng đầu  đã được đảo lộn trong một bài vè dân gian có tính chất hài hước “ Nhất sĩ nhì nông. Hết gạo chạy rông. Nhất nông nhì sĩ”.Tuy nhiên, trải qua bao nhiêu thế hệ, quan niệm “sĩ” đã trở thành thâm căn cố đế trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ Việt nam. Ai cũng muốn cho con em mình trở thành những “sĩ”. Rất ít các bậc cha mẹ hướng con mình đi theo con đường binh nghiệp. Ở một khía cạnh nào đó, thằng Eric nói đúng. Nếu ai cũng là “sĩ’ cả thì lấy ai bảo vệ đất nước này?
         Chỉ có hai ngày đi thăm Eric, một anh lính mới tò te trong môi trường xa lạ là
căn cứ huấn luyện tân binh Lackland, tôi đã nhìn thấy tận mắt một phần nhỏ sinh hoạt và học hỏi biết bao điều mới lạ về đời lính Mỹ.Thằng nhỏ đã cho tôi có một sự đánh giá lại về hai chữ “giá trị” các ngành nghề trong xã hội trong đó có nghề lính.
Eric cho tôi có một cái nhìn mới về các từ ngữ “lý tưởng”, “ước mơ”. Eric tự nguyện đi lính vì lý tưởng chống khủng bố và ước mơ bảo vệ đất nước Hoa kỳ. Lý tưởng cao quý nhất là lý tưởng đơn giản nhất. Ước mơ đẹp nhất là ước mơ bình thường nhất.   
          Lời tạm biệt của tôi khi chia tay với Eric là niềm tin và lời chúc Eric sẽ thành công, thực hiện ước mơ và lý tưởng của nó trên con đường binh nghiệp. Có nhiều những người Mỹ gốc Việt nay trở thành những nhân vật nổi tiếng như Tư lệnh hạm đội Hoa kỳ, Trung tá Paul Longmy Choate chỉ huy chiến hạm nguyên tử hạt nhân USS-CVN-74. “The refugee come home”, Đại tá Lê bá Hùng, chỉ huy khu trục hạm Uss Lassen, 38 năm sau trở về thăm lại Đà nẵng quê hương ông. Thiếu tá Elizabeth Phạm, người nữ phi công gốc Việt đầu tiên lái chiếc F-18 trên chiến trường Iraq. Dương Nguyệt Ánh, người phụ nữ tài đức tuyệt vời đã làm rạng rỡ người Việt nam trên đất nước Mỹ...Và còn nhiều, nhiều lắm những bàn tay và khối óc của những người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba đang âm thầm đóng góp cho nền an ninh quốc phòng và bảo vệ đất nước Hoa kỳ trong đó có Eric.
        Cầu mong cho thằng cháu Eric bây giờ đang là một tân binh, biết đâu 10, 20, 30 năm nữa, nó sẽ là một Dương Nguyệt Ánh thứ hai với “nickname” “Eric bomb”!
        Cầu mong cho nước Mỹ có nhiều người lính Mỹ gốc Việt như Eric “Xin nhận nơi này là quê hương”, nuôi lý tưởng và ước mơ bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình cho nước Mỹ và cho nhân loại trên thế giới này.                                                                           
                                                          Phùng Annie Kim













           

No comments:

Post a Comment