Wednesday, October 7, 2015

Tôi Yêu Bà Bảo Trợ

Tôi Yêu Bà Bảo Trợ
Tác giả: Tim Lê
Bài số 3637-18--30127vb2100515

Tác giả sinh năm 1942, hiện là cư dân Santa Ana. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO đầu thập niên 90, nơi đến là Boston. Bài Viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là một chuyện tình Việt Mỹ khác thường.
* * *

Chuyến bay vừa dừng hẳn ở Phi Trường Boston. Chúng tôi được đặt bước chân đầu tiên lên đất nước Hoa Kỳ, nhưng trong đầu vẫn còn lơ mơ… Bà vợ tôi ngơ ngác nhìn xung quanh một hồi rồi bóp nhẹ vai tôi:

- Ông ơi! đây là thật hay mơ?

Tôi không trả lời bà vợ, mà đưa mắt nhìn ba cậu con trai đang tíu tít chỉ chỏ khắp nơi; còn cô con gái thì ngồi chồm hổm bên chiếc xách tay, đầu tóc rủ rượi, vì say sóng suốt chuyến bay từ Thái Lan đến Mỹ.

Gia đình tôi gồm sáu người (hai vợ chồng và bốn đứa con) được định cư theo diện H.O (Humanitarian Operation) vào mùa hè năm 1991. Qua giây phút ngỡ ngàng, chúng tôi được nhân viên của cơ quan IOM đưa đi làm thủ tục nhập cảnh. Sau đó, nhờ dấu hiệu nhận diện thông báo trước; chúng tôi rất vui mừng khi gặp được một số đông người Việt và người bảo lãnh đến đón, mà trước kia chưa hề gặp mặt, mặc dầu là người cùng quê.

Mọi việc như đã thu xếp sẵn, chúng tôi lên xe về nơi tạm trú. Theo sự giới thiệu của chú bảo lãnh, gia đình tôi được đưa về ở một thành phố nằm về hướng Bắc của Tiểu Bang Massachusetts, cách đây hơn 30 miles.

Xe chạy được một lúc, tôi đưa tay xem đồng hồ, nhưng sực nhớ: chiếc đồng hồ Made in Xã hội chủ nghĩa, không biết giờ này nó đang chạy theo cách nào đây ? Nhớ lại hồi còn ở trong trại cải tạo của cộng sản, các tên quản giáo thường nói: Đồng hồ của Liên xô tốt hơn đồng hồ của Thụy sĩ. Mặt trăng của Trung quốc tròn hơn mặt trăng của Hoa Kỳ. Tôi lắc đầu mấy cái để xua đi sự tôn sùng vớ vẫn … Thôi, để vài bữa xem sao…

Đưa mắt nhìn về phía trước, con đường Highway N.93 khá rộng, hai bên đường cây cối rậm rạp, thấp thoáng trong bóng đêm một vài vùng ánh sáng, tôi nghĩ có lẽ đó là những làng mạc lẻ loi. Trời đã về khuya, đường vắng vẻ và im lặng, lẻ tẻ một vài chiếc xe vượt qua mặt, chứ không thấy xe ngược chiều. Thêm vào đó, thỉnh thoảng trước mắt một luồng ánh sáng vút ngang qua như sao xẹt, nhưng tôi không biết đó là gì…

Trong lòng bắt đầu hoang mang… không biết họ đưa mình đi đâu, sao đã khá lâu mà vẫn chưa đến nơi. Hình ảnh "Khu kinh tế mới" ở Việt Nam lại hiện lên trong đầu, hay là… họ đưa gia đình mình đến đó!

Đột nhiên người ngồi bên cạnh nhướng người nhìn về phía trước rồi thản nhiên nói:

- Sắp đến nơi rồi…

Xe chạy lòng vòng trong thành phố vắng vẻ, rồi dừng lại trước một căn nhà khá khang trang; một bàn tiệc đã được dọn sẵn với số đông người Việt đang chờ đón chúng tôi. Mặc dầu chưa hề quen biết, nhưng khi gặp nhau mọi người chào hỏi rối rít, bầu không khí như vui nhộn và ấm áp hẳn lên. Vừa đói, vừa khát lại được một bữa ăn thịt gà thoải mái. Sau đó, chúng tôi nằm lăn ra sàn nhà, ngủ một giấc không biết trời trăng gì hết.

Qua những người bạn mới quen và được đưa đi đây, đi đó; đến lúc này, chúng tôi mới tin là mình đang ở Mỹ thật và cũng cảm thấy mấy ngày trước mình ngu ngơ thật: Con đường Highway có hai chiều cách biệt, cây cối che chắn thì làm sao thấy xe chạy ngược chiều; còn những vệt sáng như sao xẹt là ánh đèn của những chiếc xe chạy qua cây cầu vượt bên trên Highway, thế mà mình không biết, mà cứ tưởng… đúng là quê mùa một cục.

Gia đình tôi toàn là người lớn, đứa con trai út cũng đã mười bảy tuổi. Không thể ở chung với một gia đình khác trong gian nhà chỉ có 3 phòng ngủ; sau khi nhận được trợ cấp, chúng tôi thuê một căn nhà khác. Tiền thuê 600 dollas một tháng; tôi không nhớ tỷ giá giữa USD/VNĐ lúc đó là bao nhiêu, nhưng khi tính ra tiền VN, chúng tôi giật mình "mới đây mà mình đã trở thành triệu phú".

Sau hai tuần lễ nghỉ ngơi, chú bảo lãnh đưa tôi đi học lớp Anh văn "ESL" ban đêm và các con của tôi cũng tạm học ở đó, chờ ngày khai giảng niên học mới.

Một buổi sáng cuối tuần, sau bữa ăn sáng muộn; chúng tôi đang bàn tính làm gì và đi đâu, thì bổng có tiếng chuông cửa reo, ra mở cửa thì thấy hai bà Mỹ trắng, một già, một trẻ và họ ngỏ ý muốn vào thăm.

Chúng tôi mời họ vào, vì mấy ngày qua ngày nào cũng có nhiều người Việt đến thăm. Chỉ có khác, hôm nay lại là người Mỹ. Tuy vậy, chúng tôi cũng không lo lắng nhiều, vì sau khi nộp hồ sơ xin định cư, tôi đã đốc thúc các con học Anh ngữ. Riêng tôi, hằng ngày phải lo kiếm gạo, nên chỉ mằn mò vài chữ vào ban đêm và cố gắng moi lại chút ít vốn liếng có được lúc trước.

Nay đến chuyện rồi thì phải mạnh dạn lấy ra xài, chỗ nào "bí" thì dùng động từ "tu quơ" (to talk by sign), cùng lắm thì ra hiệu cho các con trợ giúp.

Sau phần chào hỏi, bà Mỹ trẻ đứng lên giới thiệu:

- Đây là Mrs. J. mẹ tôi, còn tôi là C. con gái của bà ta. Ba tôi đang ở nhà. Ngừng một chút bà tiếp:

- Gia đình chúng tôi ở gần đây, được biết các bạn mới đến định cư; chúng tôi muốn được làm quen với các bạn và muốn hỏi các bạn có cần chúng tôi giúp gì không?

Tôi đứng lên giới thiệu từng người trong gia đình và tóm tắt cho họ biết:

- Gia đình tôi được Chính Phủ Hoa Kỳ chấp thuận cho định cư ở đây; vì trước năm 1975 tôi là Sĩ Quan trong QLVNCH, đã trải qua gần 8 năm trong trại tập trung cải tạo của cộng sản VN. Đến đây, tôi cảm thấy như muốn hụt hơi, ngưng một chút, tôi tiếp:

- Trước hết tôi thành thật cám ơn sự thăm viếng và nhã ý tốt của gia đình bà. Còn những gì cần thiết cho một gia đình ở Mỹ thì…chúng tôi chưa biết gì cả. Tuy nhiên, chúng tôi rất hoan nghênh bất cứ thứ gì, từ quý vị hoặc bất cứ ai cho chúng tôi, vừa dứt lời thì bà J. (bà mẹ) nói:

- Thế thì tốt rồi, chúng tôi sẽ cố gắng và nếu cần gì thì cứ gọi chúng tôi.

Bà con gái đưa mắt nhìn chúng tôi một lượt rồi có vẽ trầm ngâm nói:

- Lâu nay, tôi có ý muốn đến thăm nước Việt Nam của các bạn. Nhưng, hôm nay chúng tôi may mắn, được gặp các bạn ở đây. Có lẽ, đây là dịp để tôi tiếp tục hoàn thành tâm ý của chồng tôi. Ngừng một chút như để đè nén cơn xúc động, bà tiếp:

- Sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan, chồng tôi tình nguyện đi phục vụ ở Việt Nam; hơn 8 tháng sau, thì chúng tôi nhận được thông báo: chồng tôi đã hy sinh, vì bị cs tấn công, pháo kích vào đơn vị của chồng tôi đang làm cố vấn.

Chúng tôi không biết nói gì, chỉ cuối đầu dành một phút tưởng niệm người thân của người bạn mới. Sau đó, bà C. xoay qua phía tôi và nói:

- Cho tôi tờ giấy.

Bà ghi tên tất cả mọi người trong gia đình của bà gồm: ngày, tháng, năm sinh, số phone và địa chỉ đưa cho tôi. Chúng tôi cũng làm như vậy đưa cho bà.

Có thể nói, đây là cuộc gặp gỡ và kết bạn thú vị đầu tiên của gia đình tôi trên đất nước xa lạ này. Những ngày sau đó, hầu như ngày nào chúng tôi cũng nhận được đủ thứ vật dụng như: bàn ghế, áo quần, dụng cụ nhà bếp… Chúng tôi không rõ những thứ này từ đâu đến; nhưng có phần chắc là do sự vận động của Mẹ con bà Mỹ. Thêm vào đó, cứ một hai tuần bà C. lại đến đưa gia đình tôi đến các cơ quan từ thiện chọn quần áo và các thứ… Mặc dầu, đây không phải là đồ mới, nhưng còn khá tốt.

Những tháng năm sau đó, sự thăm viếng qua lại, những lời chúc tụng vào các dịp lễ, tết... làm cho tình cảm giữa hai gia đình càng thêm thắm thiết. Đặc biệt, ngày Birthday của mỗi người trong gia đình tôi, bà C. đều mang đến một ổ bánh sinh nhật, đèn cầy và không quên kèm theo một gói quà nho nhỏ. Đáp lại sự quan tâm đó, chúng tôi cũng mời họ những món ăn thuần túy Việt Nam như: chả giò, phở hoặc bún bò Huế…

Mùa hè năm 1992, đứa con trai út của tôi tốt nghiệp High School, mặc dầu chỉ qua một năm học ở Mỹ mà đã nhận được phần thưởng xuất sắc một số môn học. Kết quả này, đã làm cho Mẹ, Con bà bảo trợ rất vui mừng; Bà C. đưa cả gia đình tôi đến Boston xem cá heo (dolphin) biểu diễn. Sau đó, cùng nhau đến Chinatown ăn phở, ngồi giữa bà vợ và bà C. lòng tôi cũng cảm thấy vui vui.

Sau hơn hai năm định cư, nhờ may mắn và sự giới thiệu của vợ chồng chú bảo lãnh; chúng tôi mua được căn nhà ba phòng ngủ. Tuy nhà đã cũ và trên năm mươi tuổi, nhưng vẫn còn chắc chắn. Khi mua xong, bà C. biết chúng tôi bận đi làm và các con đều đi học; bà tự động gọi người đến lau chùi nhà cửa sạch sẽ và không quên mua những vật dụng cần thiết để sau này chúng tôi tự làm. Mặc dầu, lúc này bà rất bận, vì mới nhận nhiệm vụ mới do sự tích cực vận động của bà trong cuộc tranh cử của đảng Dân chủ, đưa ông Bill Clinton lên làm Tổng Thống; một ông bạn thấy bà C. chăm sóc gia đình tôi như vậy đã thốt lên: bây giờ ông còn hơn Đại úy trước năm 1975.

Giữa vợ tôi và bà C. ngôn ngữ tuy có bất đồng, nhưng hình như hiểu nhau tất cả, nên tình cảm của hai bà cũng rất mặn mà thắm thiết. Một hôm cuối tuần, Bà C. đến nhà tôi, bà mặc một bộ đồ đơn giản, nhưng trông khá xinh; thấy vợ tôi khen đẹp, hai bà kéo nhau vào phòng thay đổi quần áo. Khi bước ra, hai bà reo vui và ôm chầm lấy nhau, vì ai cũng thấy hay hay và ngộ nghỉnh. Vóc dáng của hai bà chỉ xê xích nhau chín mười; tuổi tác thì bà C. nhỏ hơn vợ tôi ba tuổi.

Riêng tôi, tuần nào cũng gặp bà C. một hai lần, vì hai nhà cách nhau vào khoảng năn sáu phút lái xe. Khi đi, có khi tôi nói với bà vợ: tôi đến thăm ba má bà C., nhưng cũng có khi tôi lấy lý do đi đâu đó…; cho dù với lý do nào, trong thâm tâm tôi cũng chỉ muốn được gặp mặt bà C.

Suốt thời gian qua, tôi chưa hề thấy bà vợ tôi tỏ cử chỉ hay lời nói nào có tính cách "cảnh báo-ghen tuông".

Theo tôi nghĩ, có lẽ bà cho rằng: "chỉ là bạn", khó có thể xảy ra "việc gì". Bởi lẽ, bà C. là người Mỹ, thuộc giai cấp trung lưu (middle class), còn mình là dân nghèo, tỵ nạn (poor people/second class) làm sao dám đèo bòng.

Mỗi khi gặp nhau, tôi và bà C. thường "say Hi" bắt tay chào hỏi thông thường. Rồi hỏi qua sinh hoạt gia đình hoặc việc học hành của các đứa con tôi. Thỉnh thoảng, bà cũng hỏi tôi những gì ở Việt Nam mà bà chưa biết hoặc tôi hỏi bà các sinh hoạt của xã hội Mỹ. Những lúc rảnh, bà cũng hướng dẫn tôi cách phát âm đúng giọng tiếng Anh.

Tuy vậy, trong lòng tôi cũng cảm thấy vui vui; nếu vì bận việc ở hãng hay ở nhà, một hai tuần không gặp mặt nhau, tôi cảm thấy buồn buồn, như thiếu thốn cái gì…Tôi không xác định được tình cảm của tôi đối với bà C. là gì, nó lờ mờ, lẫn lộn. Những lúc như vậy, tôi chỉ biết lắc đầu mấy cái rồi tự nhủ "phải tỉnh táo", người phương Tây có khác với người phương Đông; không khéo bị hố, thân bại danh liệt đấy.

Có lúc, tôi cũng nhớ lại lời của các ông thầy bói; ông nào cũng nói tôi có số "đa thê", nhưng tôi không tin người đó là bà C.; nếu số mạng đưa đẩy, có chăng là một bà Spanish hay Miên, Lào gì đó…cùng làm việc chung hãng.

Trong lần Birthday năm 1997, bà C. đã cho tôi một sự ngạc nhiên và cảm động không ít. Ngoài ổ bánh sinh nhật như thường lệ, lần này bà mang đến cho tôi một cái bàn viết còn khá tốt, có lẽ bà mua ở chỗ (moving sale) nào đó. Bên trong bà xếp đầy đủ các vật dụng cần thiết cho văn phòng kể cả kim ghim-kẹp.

Mùa đông vừa dứt thì bà lại mang đến cho tôi một lô dụng cụ làm vườn và cả quyển lịch "the old Farmer's Almanac", mặc dầu sau nhà tôi chỉ có một luống đất nhỏ, chỉ đủ trồng ít cây cà, cây ớt…

Năm 1998, tôi được vào Quốc tịch Mỹ, hôm đó bà C. nghĩ việc một ngày, cùng đi dự lễ tuyên thệ với tôi, rồi cùng về nhà bà ăn bánh "Happy" và chụp chung nhiều tấm hình với cha mẹ bà. Khi tôi ra về, bà không quên bảo tôi mang về cho vợ tôi nửa ổ bánh. Không những lần này, mà mấy lần trước cũng thế, bà chăm chút cho mọi người từng li, từng tí và căn dặn đủ điều.

Nhớ lúc còn ở Việt Nam, khi thấy ai tiêu xài hơi quá một chút, người ta thường nói: xài như Tây, như Mỹ. Ngày nay, người Việt ở Mỹ, nhất là các chú thanh niên, chỉ thích xài tiền giấy, còn tiền đúc (cent) ít ai dùng, cho là nặng túi. Nhiều nhà bỏ cả thùng, không biết khi nào mới đụng tới.

Còn bà C. trong xách tay luôn luôn có cái ví nhỏ đựng tiền cent. Xem báo thấy chỗ nào cho Coupon, hạ giá, thì cắt ngay cho vào túi. Có lần, tôi nhờ bà đưa đi mua một ít vật dụng để sửa chữa nhà. Bà đưa tôi đi không biết bao nhiêu tiệm. Bà so sánh mẩu mã, chất lượng và giá cả từng món hàng rồi sau đó mới quyết định; mặc dầu, đó là tiền của tôi. Tôi nghĩ, nếu ông nào khó tánh, tỉ mỉ, muốn tìm một người vợ kim chỉ, kỷ càng thì khó tìm được ai hơn bà này.

Cuối năm 1998, vợ chồng tôi về Việt Nam thăm Mẹ tôi và vợ chồng đứa con cùng đứa cháu ngoại bị kẹt lại, vì lúc đi Mỹ con gái tôi đã kết hôn.

Trước ngày chúng tôi đi mấy hôm, bà C. đến nhà dặn dò tỉ mỉ mọi việc: từ việc lên, xuống máy bay và những tình huống nếu xảy ra dọc đường. Bà ghi cho tôi địa chỉ, số phone của Tòa Đại sứ Mỹ ở Hà nội và Tòa Tổng Lãnh Sự ở Sài Gòn; ngoài ra bà còn cho tôi một số phone "đặc biệt", khi cần thì gọi gấp cho bà. Cuối cùng, bà cũng không quên gởi cho Mẹ tôi và con tôi một ít tiền, thay vì không biết mua món quà gì.

Về đến Việt Nam, hai ngày đầu tôi bận thăm viếng bà con và tiếp bạn bè đến thăm. Đến tối tôi mới gọi về Mỹ; nhận được tiếng nói của tôi bà C. rất vui mừng, hỏi thăm sức khỏe từng người và nhắc thêm một vài điều cần thiết.

Sự quan tâm, chăm sóc của bà C. đã gieo vào lòng tôi mối tình cảm ấm áp; khi dứt phone không kềm được lòng mình, tôi vụt miệng nói "I love you"; trong giây phút im lặng và hồi hộp… tôi không nghe sự phản ứng nào ở đầu máy bên kia, kể cả tiếng "dập" phone. Hú hồn!

Ngày trở về Mỹ, bà vợ bảo tôi mang đến tặng cho gia đình bà mỗi người một chiếc áo len đan bằng tay. Riêng phần bà C. được thêm 2 bộ quần áo ngủ xinh xắn.

Suốt thời gian vợ chồng tôi ở Việt Nam, ngày nào bà C. cũng gọi phone thăm hỏi các con tôi, mặc dầu chúng đã lớn. Cuối tuần thì bà lại mang đến hoặc order thức ăn cho chúng.

Cuối năm 2003, người cha của bà qua đời; vợ chồng tôi và các con đến tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ. Tình cảm của hai gia đình càng thêm gần gủi; một hôm tôi đến nhà, bà Mẹ gọi tôi đến gần và nói:

- Từ nay, mỗi khi đến đây, bạn không cần phải gọi phone trước nữa và cách cư xử cũng có khác. Trước kia mỗi khi tôi đến bà thường hỏi: ăn uống gì không? Bây giờ, thì bà tự động mang thức ăn ra bảo tôi ăn.

Sự lui tới nhiều lần, mọi ngõ ngách trong nhà tôi đều quen thuộc; chỗ nào hư hỏng tôi tự động mang dụng cụ đến sửa chữa, như người trong nhà. Một buổi chiều cuối tuần, tôi vừa đến thì bà C. rủ tôi ra khu vườn sau nhà, chỉ cho tôi xem những cụm hoa hồng mà bà mới trồng. Thừa lúc bà C. vừa đứng dậy, tôi nắm hai bàn tay của bà và nói:

- I love you.

Tôi hồi hộp chờ đợi tiếng trả lời "me too", "yes or no" hay một cái "tát tai" của bà. Nhưng không, bà chỉ im lặng nhìn tôi rồi ra dấu, đến ngồi ở băng đá cuối vườn. Lúc này, tôi như người dũng sĩ vươn tới lao theo ngọn giáo. Tôi xoay qua, nắm chặt bàn tay bà, nhìn vào mắt và nói:

- Nếu bạn không thể trả lời tôi ngay bây giờ… cũng không sao. Nhưng, tôi hy vọng ngày nào đó… bạn đến cạnh quan tài của tôi, nói nhỏ vào tai tôi cũng được. Được như thế, tôi cũng mãn nguyện.

Bà C. cũng không trả lời câu nói của tôi, mà chỉ cuối đầu nhìn thảm cỏ xanh trước mặt, tôi không biết bà đang nghĩ gì. Qua giây phút… bà thản nhiên chỉ tôi xem những cụm hoa bên cạnh đang tươi tốt vươn lên.

Mặc dầu, không được bà C. đáp ứng, nhưng tôi cũng cảm thấy thoải mái trong lòng, vì đã nói ra được điều thầm kín, ấp ủ trong lòng bấy lâu.

Thành thật mà nói, không hiểu sao tình cảm của tôi đối với bà C. cứ tăng dần từ giây phút đầu tiên gặp bà. Nhiều lúc tôi tự nhủ: đây không phải là tiếng sét "ái tình" bình thường của đôi nam-nữ; mà đây có thể là tiếng sét chết người! Và tôi cũng biết rằng: đây là mối tình "vô vọng", có thể đưa đến sự đổ vỡ to lớn hơn…Đáng lẽ ra, tôi phải kềm chế và giấu diếm trong tim!

Bà C. tuy không phải là người đàn bà mỹ miều duyên dáng cho lắm, nhưng trông bà có vẽ thanh tú, phúc hậu, nói năng từ tốn, nghiêm trang nhưng không tỏ vẽ kiêu căng; nhìn vào bà, tự nhiên có cảm giác bình an và thân thiện.

Có lần, Cộng Đồng tổ chức ăn Tết Âm Lịch, tôi mời bà cùng tham dự; thấy tôi ngồi bên cạnh bà, mấy ông bạn nói: Ông tìm đâu ra bà Mỹ đẹp thế.

Suốt thời gian dài quen biết, tôi chưa hề nhận thấy ở bà một nụ cười tình tứ, lả lơi hay những cái liếc mắt đưa tình mà ta thường thấy ở những người đàn bà khác.

Một hôm tôi vừa đến nhà, thì bà C. rủ tôi cùng đi đến tiệm sách. Tôi nghĩ, bà muốn đưa tôi đến đó cho biết, hoặc mua thứ gì đó cho tôi. Nhưng không, khi đến đó, bà chỉ lục lọi tìm các sách học Anh ngữ, loại sách học từng câu và có hình vẽ tương ứng mua cho vợ tôi. Trên đường về, đột nhiên bà thắng gấp xe, vì thấy một con mèo đang quằn quại bên vũng máu, có lẽ chiếc xe chạy trước đã cán phải.

Bà vội vàng xuống xe và chạy vội đến ôm nó vào lòng, như ôm một đứa bé; hối tôi mở "trunk" xe, lấy tờ báo và napkin. Đặt con mèo nằm lên giấy, bà lau từng giọt máu. Hai mắt nó nhắm ghiền, miệng kêu meo meo, mỗi lúc một nhỏ dần, có lẽ nó đang đau lắm, vì hai chân đã bị gảy. Sau đó, bà C. quyết định đưa nó vào Animal Hospital.

Hơn một tháng qua, tôi không đến nhà bà, vì hãng của tôi đang làm nhận được hợp đồng khá lớn; hằng ngày công nhân phải làm thêm giờ kể cả weekend. Hôm đó, tôi vừa bước vào nhà, thì thấy bà C. chuẩn bị ra đi, sau khi chào hỏi, bà hỏi tôi:

- Có muốn đi với tôi không?

Dĩ nhiên, tôi trả lời "yes". Ngồi trên xe, tôi không cần biết đi đâu và đi đường nào… Bỗng xe dừng lại trước nghĩa địa súc vật (Animal Cemetery), vừa bước xuống xe bà nói:

- Chúng ta vào thăm con Pichow!

Tôi trố mắt, hiểu ý tôi bà C. tiếp:

- Nó bị bệnh, đem nó vào bệnh viện nhưng không qua khỏi; tôi chôn nó ở đây!

Pichow, là con chó của bà, có bộ lông xù, màu nâu sẫm, hai mắt tròn và đen láy, trông rất dể thương. Nó lớn hơn con mèo một chút, khi bà C. đi đâu thì nó lủn đủn chạy theo sau, lúc bà ngồi thì nó nhảy thót vào lòng. Mỗi khi thấy tôi đến, nó tỏ ra mừng rỡ, quấn quít xung quanh, liếm vào chân rồi nhảy cửng lên như muốn được bồng.

Mộ của con Pichow, chỉ là một tấm bia đá nhỏ, trên đó ghi tên và ngày nó chết. Bà C. ngồi sụp xuống, hai tay xoa xoa lên tấm bia, như từng xoa đầu nó ngày nào. Bà không nói gì, nhưng vẻ mặt trầm buồn, không khác ngồi bên nấm mộ người thân; lòng tôi cũng cảm thấy xao xuyến, cảm động trước mộ một con vật mà tôi và nó đã từng quen biết.

Tấm lòng nhân ái của bà C. không những đối với gia đình tôi, mà còn đối với nhiều người khác, đã gieo vào lòng tôi những ấn tượng sâu sắc: Hằng tháng bà gởi khá nhiều tiền đến các cơ sở từ thiện để trợ giúp cho các trẻ em mồ côi hoặc khuyết tật và giúp đỡ cho ba đứa con nuôi của bà, mặc dù họ đã có gia đình riêng.

Ở đây, tôi không dám nói hầu hết người Mỹ đều tốt như gia đình bà C. Nhưng, ít ra cũng đánh tan được sự tuyên truyền xảo trá của cộng sản. Chúng nhồi nhét vào đầu người dân rằng: người Mỹ hung ác, xã hội xô bồ hổn tạp, trộm cắp đầy rẩy… hằng ngày loa phóng thanh cứ ra rả suốt ngày, ai không muốn nghe cũng phải nghe.

Giữa năm 2005, bà C. xin nghỉ hưu sớm hai năm, ở nhà chăm sóc bà mẹ, vì năm đó bà J. cũng đã 92 tuổi. Tôi không biết bà C. sẽ chăm sóc bà mẹ như thế nào. Nhớ lúc trước, khi cha của bà bệnh, ngoài thời gian đi làm, những ngày lễ và cuối tuần bà ở nhà chăm sóc cho ông. Thấy việc chăm sóc cho người cha quá cực khổ, nên tôi có hỏi:

- Tại sao bà không đưa ông vào bệnh viện ?

Bà trả lời ngay:

- Không, tôi sẽ nuôi cha-mẹ tôi ở nhà. Khi nào cần thiết, thì đưa vào bệnh viện để có đủ máy móc điều trị, sau đó thì trở về nhà. Anh thấy đó, tôi đã mua đầy đủ vật dụng cần thiết và chắc chắn sau này tôi cũng sẽ nuôi mẹ tôi như thế này.

Được nghỉ hưu, có thì giờ rảnh bà C. lại tham gia vào công tác từ thiện nhiều hơn. Ở nhà, bà tự tay làm các loại bánh kẹo, đan áo len để "bà xơ" đến phân phát cho các cô nhi viện. Đối với tôi, đây cũng là thời gian vui vẻ nhất, chúng tôi có nhiều thời gian bên nhau… giúp nhau nhiều công việc; có lần xe tôi bị hư-sửa, bà đến nhà đưa tôi đến hãng làm, chiều đến rước về. Lúc này, tôi không mong ước gì hơn, chỉ mong sao tình cảm giữa tôi và bà C. được bền vững mãi mãi…
*

Một ngày mùa thu năm 2006, vào khoảng 7 giờ 30 tối, bà C. gọi phone cho tôi và nói ngắn gọn:

- Tôi muốn gặp anh bây giờ - Ở phòng trước (front porch) - Đậu xe ở đằng xa - Đừng bấm chuông. Ngừng một chút bà tiếp:

- Tôi chờ anh ở đó.

Dứt phone, tôi đi thay quần áo. Thấy tôi vội vã, bà vợ hỏi:

- Ông đi đâu giờ này ?

Tôi đáp:

- Không biết chuyện gì…bà C. gọi tôi đến gấp.

Bà vợ không ngăn cản, mà chỉ nói:

- Hay là bà J. đau nặng, nếu có gì thì báo về cho hay.

Trên đường đi, lòng tôi phân vân không biết việc gì… Từ ngày quen biết đến giờ, đây là lần đầu tiên bà C. gọi tôi như thế này. Có lẽ, bà C. gặp vấn đề gì, cần mình giúp? Nhưng sao cách gọi có vẻ bí mật quá. Hay là… hôm nay bà ăn trúng thứ gì nên… "tác quái" gọi mình đến.

Tôi đến nơi, mọi việc đúng như đã nói. Bà C. đón tôi tại cửa; trong phòng ánh sáng lờ mờ, tôi thấy bà mặc đúng bộ quần áo ngủ mà tôi tặng cho bà trước đây. Đột nhiên bà tiến đến ôm chầm lấy tôi và khóc nức nở. Tôi ngỡ ngàng, không biết chuyện gì… Sau chừng một phút, vừa khóc vừa cào cấu và đấm mạnh vào lưng tôi; bỗng bà dừng phắt lại, đẩy tôi xa ra, nhìn thẳng vào mặt rồi nói:

- Chúng ta chia tay, từ nay anh không được đến nhà tôi nữa !

Tôi ngạc nhiên, nhưng tỏ vẻ bình tỉnh hỏi:

- Tại sao? Em phải cho anh biết lý do chứ.

Bà C. không trả lời, chỉ lắc đầu rồi lại khóc. Tôi ôm chặt bà vào lòng và chúng tôi đã trao nhau những nụ hôn thật sự. Tôi ôm bà chặt hơn, muốn đi xa hơn; nhưng bà lắc đầu và nghiêm mặt nói: "no". Tôi không dám đụng đậy gì thêm, vì biết rằng: khi người đàn bà Mỹ không đồng ý mà cưỡng ép, thì chết là cái chắc.

Sau giây phút chần chừ, bà lại nhắc:

- Anh hãy đi về.

Lần này với giọng điệu cứng rắn hơn và có tính cách xua đuổi. Đến đây, tôi không còn lý do gì ở lại thêm và cũng không biết nói gì…Tôi lặng lẽ ra về, với hy vọng sẽ tìm hiểu và đợi khi bà bớt giận sẽ giải thích.

Bước ra khỏi nhà, dưới ánh sáng lờ mờ từ ánh đèn ở đầu đường. Tôi ngoái đầu nhìn lại, bà C. đứng tựa cửa nhìn theo cho đến khi tôi bước lên xe.

Về đến nhà lúc nào tôi cũng không hay biết, cho đến khi bà vợ hỏi:

- Có vấn đề gì không ?

Tôi không dám nói ra sự thật mà chỉ nói ởm ờ:

- Bà già bị… mệt. Nhưng… đã khỏe… lại rồi.

Dứt câu, tôi đi thẳng vào phòng thay quần áo. Đêm nay, giấc ngủ không đến với tôi bình thường như mọi ngày, tôi càng cố gắng dỗ giấc ngủ, thì hai mắt lại càng mở to và nhìn thao láo lên trần nhà. Trong đầu cứ lẫn quẩn những câu hỏi, nhưng không có câu trả lời nào thỏa đáng. Cuối cùng, một ý nghĩ như sự an ủi đến với tôi: "hay là bà C. muốn nắn gân mình chăng".

Sau mấy ngày bâng khuâng, lo lắng! Tôi gọi phone không ai bắt, đến nhà bấm chuông cũng không ai mở cửa, ra cửa sau, cũng im lìm. Tôi đứng tần ngần nhìn khu vườn, nhớ lại những lúc tôi và bà C. vui cười và cùng bên nhau chăm bón từng cây hoa vào những buổi chiều vừa tắt nắng.

Lòng tôi như se lại, đau đớn đến nghẹn ngào và có cảm giác như người xa lạ…

Tôi sực nhớ, trước đây có lần ngồi bên nhau bà C. hỏi:

- Chúng ta quen nhau bao lâu rồi nhỉ ?

Tôi nhanh nhẩu đáp:

- Từ ngày "you" đến nhà tôi lần đầu tiên, tính đến nay đã hơn mười lăm năm.

Bà C. không lộ vẻ gì, mà chỉ thản nhiên trả lời:

- Thế à.

Tôi đâu có ngờ, câu hỏi đó hàm chứa những suy nghĩ, tính toán trong lòng bà. Còn tôi! thì cứ tưởng… đó là cái mốc thời gian, một quá trình tốt đẹp.

Trên đường trở về nhà, trong lòng cảm thấy xao xuyến và tê tái, như con chim bị thương đang tìm nơi ẩn náu. Ngồi vào bàn, mở hộp thơ Email, một bức thơ ngắn từ bà C. gởi đến, cùng một điệp khúc: "Chúng ta chia tay kể từ nay. Đừng đến nhà tôi và cũng đừng tìm cách liên lạc. Tôi đã đổi số phone và địa chỉ Email". Bức thơ ngắn gọn chỉ có thế! Cuối thơ không có lời chào tạm biệt hay vĩnh biệt và cũng không kèm theo lời chào kín đáo "love hay your friend" như ngày nào.

Tôi đọc đi, đọc lại bức thư nhiều lần, nhưng vẫn không tìm ra ý nghĩa nào khác… Thật rồi! Bà C. đã quyết định cắt đứt tình tôi!

Tôi ngồi đây, nhưng cảm giác như chai cứng. Không xác định được lúc này tôi đang vui, đang buồn hay tức giận. Và cũng không hiểu tại sao, do tôi hay do bà C. đưa đến kết cuộc này? Chỉ tiếc là bà C. không cho tôi một lời giải thích nào, mà còn đóng kín mọi ngã… hay là bà cho rằng: "rồi ra tôi sẽ hiểu"…

Tôi đang sống với gia đình vợ con, nhưng một phần linh hồn đang gởi gắm nơi đâu! Người ta thường nói: "không tình yêu nào, giống tình yêu nào" thật thế. Đối với tôi, tình yêu thương vợ-con tôi không thể nào từ bỏ, trừ cái chết. Còn tình yêu này… chỉ có cái chết tôi mới quên! Xin tha thứ! Trái tim của mỗi con người, không phải chỉ để chứa một thứ tình…

Qua thời gian dài không gặp, không liên lạc với bà C., nhiều lúc tôi cảm thấy buồn, nhớ và nuối tiếc như vừa đánh mất cái gì quý giá từng yêu thích. Tôi không ân hận và cũng không hổ thẹn, vì đã không làm điều gì sai trái với lương tâm. Tình yêu của tôi đối với bà C. là thứ tình yêu chân thật, xuất phát từ sự quý mến, từ trái tim chứ không bắt nguồn từ sự ham muốn hay mưu cầu lợi ích nào khác.

Tôi không dám nói bà C. có yêu tôi hay không, mà chỉ nghĩ rằng: bà C. cũng có chút "tình cảm" với tôi hay cũng có thể, chúng tôi chỉ là tình yêu "tri kỷ".

Khi quyết định chia tay, chắc chắn bà C. cũng suy nghĩ nhiều lắm; mặc chiếc áo ngủ kỷ niệm, để tiếp tôi lần cuối và cho tôi những nụ hôn ngọt ngào… Có lẽ, nó cũng đúng với câu thành ngữ của người Mỹ "Once and for all" một lần cho tất cả; để chấm dứt một mối tình, khó có thể đem đến kết quả và cũng không thể nhắm mắt đi vào con đường tội lỗi, trong khi có thể tránh.

Luật pháp Mỹ ngăn cấm chế độ đa thê (bigamy) mỗi người chỉ một vợ, một chồng. Và cũng có thể, lương tâm không cho phép bà làm chuyện trái với đạo đức "giúp đỡ bạn rồi cướp chồng của bạn" mà bất cứ xã hội nào, tôn giáo nào cũng không dung-chấp.

Dù thế nào đi nữa, tôi cũng không khỏi chạnh lòng khi nhớ lại hình ảnh bà C. đứng tựa cửa nhìn tôi trở về nhà, trong giây phút cuối của đêm hôm ấy!

Tôi không giấu được lòng mình, thật sự tôi đã "yêu bà bảo trợ", ngay từ ngày đầu tiên gặp nhau.

Tôi viết lại những dòng này từ ký ức, mặc dầu hiện nay "hai tôi" đang sống cách nhau ba múi giờ (Masachusetts-California) nhưng tôi vẫn biết bà C. nay đã già (70 tuổi), vẫn tiếp tục các công việc từ thiện như trước và hằng ngày vẫn tận tụy chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ 102 tuổi tại nhà.

Có thể… đây cũng là lời cuối! Tôi thành thật cám ơn một gia đình người Mỹ đã tận tình giúp đỡ gia đình tôi trong những ngày đầu trên đất nước xa lạ này. Và xin ghi hình ảnh bà C. mãi mãi trong trái tim tôi!

California, ngày 18.9.2015.

Tim Le
<iframe class="adspot_iframe" src="/banner/134/635570297849182601/63523002015081201" style="border:0"></iframe>
<iframe class="adspot_iframe" src="/banner/227/635647655986744578/63523002015081201" style="border:0"></iframe>Responsive web deisgn. Thiết kế web tự tương thích

Thursday, September 3, 2015

Ly nước dâng mẹ nhân Lễ Vu Lan

Ly nước dâng mẹ nhân Lễ Vu Lan

Lệ Hoa Wilson

Má tôi tên Nhiễu, Quách Thị Nhiễu. Ngày bà vào nhà thương sanh ra tôi, ba tôi bận đi nhậu với bạn bè nên bà nói với cô mụ là bà không có chồng và muốn tôi mang họ mẹ. Vì thế tôi thành Quách Thị Lệ Hoa. Sau này ba tôi năn nỉ quá nên bà cho ba tôi ra tòa nhận con nhưng vẫn cương quyết để tôi mang họ mẹ. Bà nói một người chồng lo đi nhậu ngày vợ chuyển bụng không xứng đáng để cho con mang họ. Tôi tiếp tục mang họ Quách. Ba tôi tiếp tục nhậu.
Má tôi dốt đặc! Bà chưa từng bao giờ đến trường ngoại trừ một buổi tối vào khoảng năm 1955. Bà tham dự vào lớp học tối của Hội Truyền Bá Quốc Ngữ (mà tôi là cô giáo), học ký được chữ X, rồi thôi. Bà không bao giờ trở lại. Vậy mà trong đầu bà có cả một máy tính điện tử và một bộ nhớ tới mấy chục megabytes .
Vào nhiều năm cuối đời bà bán hột xoàn ở Chợ Củ, Sài Gòn. Mỗi khi có chuyến hàng về từ Hong Kong, bà phân chia hột xoàn thành từng loại lớn nhỏ, sạch dơ, nước trắng hay vàng v.v.. rồi bán sỉ lại cho bạn hàng. Vì không biết chữ nên bà không thể ghi chép lại bằng giấy tờ được. Mọi chuyện mua bán trong ngày bà đều ghi lại trong óc. Chiều về bà ngồi đọc lại cho con ghi chép, vài chục vụ trao đổi với mọi tình tiết éo le, bà nhớ không sót một ly. Tôi chỉ phải ghi chép thôi mà đầu óc còn tá hỏa lên thế mà bà tỉnh bơ, vanh vách không sót một chi tiết nào. Từ chuyện nầy tôi cũng học được một bài học là Trời Đất công bình, không cho mình cái này thì bù trừ cái khác, không nên nhìn vào cái thiếu sót mà thất vọng, khóc than.
Má tôi sanh ra trong một gia đình nghèo, rất nghèo. Khi mới lên mười tuổi, ngoại tôi không đủ tiền đóng thuế thân (là một thứ thuế cá nhân cho nhà nước pháp thuộc) nên đem má tôi đến “ở đợ nát lời” cho bà phủ Ngọc. Tôi tự hỏi có ai còn nhớ đến hai chuyện này không: Đóng thuế thân và ở đợ nát lời ? Ở đợ nát lời có nghĩa là mình đem con đến cho nó giúp việc trong nhà người ta, lấy một số tiền về để trả nợ. Con mình làm người ở mà không được trả tiền lương cho đến khi nào mình có đủ tiền đem đến hoàn trả cho nhà chủ tiền mượn lẫn tiền lời thì mới chuộc được con ra khỏi cảnh nhục nhằn.
Nghe má tôi kể lại, ngoại tôi nước mắt dầm dề, cầm tay con không nở rời, lớp thương con, lớp tủi hổ. Ngoại cầm tiền mà khóc mùi mẫn. Má tôi mếu máo nhìn ngoại, sợ sệt cho một tương lai đen tối, khắc nghiệt nhưng cương quyết tiến thẳng vào nhà chủ bắt đầu cuộc đời tôi mọi để trả hiếu cho người mẹ nghèo.
Bà phủ Ngọc có hai cô con gái, một bằng tuổi má tôi, một nhỏ hơn hai tuổi. Thời bấy giờ con gái nhà quan, nhà giàu là phải biết may vá thật giỏi, nấu nướng thật ngon , bánh mứt thật khéo, ăn nói dịu dàng... có nghĩa là phải có đầy đủ công dung ngôn hạnh thì mới được gia đình đàng hoàng sang trọng đến coi mắt và cưới hỏi. Má tôi lớn lên cùng hai cô, làm tất cả mọi chuyện trong nhà, học tất cả khéo léo của chủ. Ngoài những lúc phụ nấu ăn và làm bánh trái thêu thùa, buổi tối bà còn ngồi đấm bóp cho mấy bà khách đánh tứ sắc, đổ ống nhổ trầu, chạy mua cà phê, hủ tiếu v.v... thôi thì mọi chuyện sang hèn gì cũng đổ lên đầu đứa bé gầy nhom mười tuổi !
Nhưng má tôi không hề than khóc số phận hẩm hiu, mới mười tuổi phải đi ở mướn. Bà thấy đó là một chuyện hết sức tự nhiên, cha mẹ nghèo thì con đi ở đợ, không có gì quan trọng hết. Nhưng bà cũng không bao giờ nghĩ là bà sẽ ở mướn trọn đời. Ngay khi quay lưng vào nhà chủ, bà đã tự hứa là sẽ ra khỏi đó dù mẹ có tiền đến chuộc hay không . Bà chắc mót từ đồng xu của khách đánh bài cho, rồi dần dần lớn lên, tài khéo léo của bà khiến bạn bà phủ phải nhờ tới mỗi khi nhà có tiệc tùng, cưới hỏi. Tiền thưởng của mấy bà nhà giàu vắt máu tuy ít ỏi nhưng cũng đủ để bà tự chuộc mình ra khỏi cảnh ở đợ nát lời.
Từ đó bà bắt đầu bán bánh mứt, thức ăn rồi dần dần mở sạp bán quần áo may sẵn ở chợ Cần Thơ rồi cuối cùng là bán hột xoàn ở Chợ Củ, Sài Gòn. Bà ăn mặc giản dị, chưa từng bao giờ biết xài son phấn. Cả đời bà hy sinh cho mẹ và sau đó cho đàn con.
Thắm thía thân phận con nhà nghèo thất học, bà nhất quyết cho anh chị em tôi đi học đến nơi đến chốn dù bà phải tốn hao cực khổ bao nhiêu. Bà buôn gánh bán bưng, thức khuya dậy sớm nhưng không bao giờ cho anh chị em tôi nghỉ học một ngày để phụ giúp bà. Chúng tôi chỉ được giúp mẹ sau khi đi học về và xong bài vở trong trường.
Có đêm nằm ngủ ở bộ ván ngựa sau bếp, chợt thức dậy lúc gần sáng, tôi thấy bà lui cui nướng bánh để kịp buổi chợ mai. Ngọn đèn dầu lung lay hắt bóng bà lên tường. Nó xiêu vẹo, ngả nghiêng như những bước chân bà khi bưng thau bột nặng trĩu. Lòng tôi rào rạt thương mẹ. Tôi nằm đó nước mắt nóng hổi lăn dài xuống má, cổ họng nghẹn đau vì nén tiếng khóc. Nếu lúc đó tôi nhảy ra khỏi bộ ván ngựa, chạy tới ôm bà khóc chắc bà nghỉ là tôi bị... ma nhập! Vì bà hy sinh mà không chờ đợi tiếng cám ơn, bà nuôi dưỡng mà không cần đền trả. Bà không nghỉ lôi thôi rắc rối như người có học. Bà đem cuộc đời ra trả ơn cho mẹ, đem máu tim ra nuôi dưỡng đàn con. Giản dị, tự nhiên, toàn vẹn. Không thấy đó là hy sinh, là cao cả, là thiêng liêng.
Tôi không biết nếu khi tôi được sanh ra má tôi đã là người giàu sang, tôi được nuôi dưỡng như con nhà giàu, hãnh diện, kiêu ngạo, khinh người thì tôi sẽ đối phó với những hoàn cảnh trắc trở, khổ đau như thế nào? Tôi đã đi qua cuộc đời với nhiều thất bại, nhục nhằn nhưng bài học về cuộc tranh đấu để vươn lên của mẹ khiến tôi chưa bao giờ ngả xuống mà cứ nằm đó khóc than trách móc số phận, đổ thừa cho những ngôi sao xấu, oán hận sự sắp đặt không công bình của “ông Trời.” Tôi nhìn lại chính mình, sữa đổi và lại cố đứng lên. Tôi chia sẻ bất hạnh, thông cảm lầm lỗi và tha thứ những vấp ngã của mọi người. Vì thế tôi lần lần hoán đổi được những nghiệp xấu mà tôi đã gây ra đời này hay những đời trước. Và tất cả đều là do má tôi. Bà không nói ra lời nhưng cách sống của bà đã thấm nhuần vào mạch máu tôi và giúp tôi vượt qua biết bao là hầm hố chông gai của cuộc đời.
Bây giờ má tôi đã qua đời. Tôi nghĩ lại, tôi chưa từng bao giờ nói một lời cám ơn mẹ. Tôi chưa từng bao giờ nói cho mẹ biết trái tim tôi đã dào dạt bao nhiêu tình cảm biết ơn, nước mắt tôi đã từng chảy tràn trề trong đêm tối khi nhìn bóng mẹ hắt hiu qua ánh đèn dầu. Tôi làm tất cả chuyện bà sai tôi làm nhưng tôi chưa từng rót cho bà một ly nước mà bà không hỏi, nấu cho mẹ một chén cháo mà bà không sai. Dù cho đầu óc má tôi có giản dị tới bực nào thì chắc tim bà cũng nở ra khi con nhìn mẹ trìu mến và dịu dàng nói với mẹ lời cám ơn. Vậy mà tôi đã chưa từng làm điều đó.
Ngày Lễ Vu Lan báo hiếu sắp tới rồi. Chiều nay khi các cháu đi học về, bài vở đã làm xong, cơm nước đã đầy đủ, mẹ đang ngồi trong phòng khách xem truyền hình, hoặc vá chiếc áo, hoặc đọc một cuốn sách... cháu hãy rót một ly nước đem tới cho mẹ dù mẹ không hỏi. Cháu hãy để ly nước bên cạnh mẹ, quàng tay qua cổ mẹ, cúi xuống hôn mẹ và dịu dàng nói, “Con cám ơn mẹ.”


Hình minh họa. (Linh Nguyễn/Người Việt)
Mẹ cháu sẽ ngạc nhiên không biết đứa con nhỏ này ngày hôm nay lên cơn gì đây hoặc muốn món quà gì đây, nhưng khi mẹ nhìn lên ánh mắt chứa chan sự biết ơn, thương yêu cũng như nụ cười rạng rỡ của cháu, bà lập tức biết rằng ly nước kia được rót ra từ trong trái tim của cháu . Bà sẽ từ hòa nhìn cháu và nói, “ Mẹ cũng cám ơn con.”
Cháu có nghĩ ra được một món quà nào quí hơn là ly nước này trong Ngày Vu Lan báo hiếu không?
Một bài hát vang vang trong đầu tôi, “ Nếu có thương tôi... xin hãy thương tôi ngay bây giờ!...” Hãy hát đi cháu... Nếu có thương mom... Xin hãy thương mom ngay bây giờ...
Hãy yêu thương mà uống ly nước đi, mẹ nhé!

Monday, June 8, 2015

Quê Hương và Chủ Nghĩa Xã Hội !

Quê Hương và Chủ Nghĩa Xã Hội !

Tác Giả : Nguyễn Quốc Chánh, SaigonChủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả

Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố

Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ
Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa

Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay

Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc

Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống

Ai nhân danh hạnh phúc
Thứ hạnh phúc ngục tù

Ai nhân danh dân chủ
Thứ dân chủ si ngu

Ai nhân danh chân lý
Thứ chân lý đui mù

Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam !

Sự thật đó có làm em đau nhói ?
Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
Chồn cáo kia có rình rập trước sau

Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.

Em đứng lên như đại dương dậy sóng
Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang

Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan
Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,

Em bây giờ khôn lớn
Mắt rực lửa yêu thương,
Biết đâu là sự thật
Em tìm thấy con đường.
Tự-Do sẽ nở hoa
Trên quê hương khốn khó

Anh như con ngựa già
Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
Đốt những đám cỏ khô
Dọn đường cho em đi làm lịch sử
Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản:

Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.
Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu:
“Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.

(Gửi tuổi trẻ Việt Nam )

Em hãy ngồi xuống đây
Anh kể câu chuyện này

Trên cánh đồng cỏ cháy
Ngậm ngùi như khói bay


Con ngựa già một đời
Chưa thấy được ngày vui
Mắt mỏi mòn trông đợi
Những mầm cỏ xanh tươi.


Đã bao nhiêu năm rồi
Hướng nhìn về xa xôi
Tâm tư đau nhức nhối
Cuộc đời vẫn nổi trôi


Em nhìn về tương lai
Cố dấu tiếng thở dài
Mắt dường như ngấn lệ
Có phải vì khói cay?


Em thấy đó, trên đường đi không đến,
Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
Những con thú người nhảy múa kiêu căng
Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã.
Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ.
 

Thursday, May 28, 2015

Không phải lúc nào mình làm từ thiện cũng đều được hoan nghinh đâu.

Bài và hình: Lệ Hoa Wilson
Không phải lúc nào mình làm từ thiện cũng đều được hoan nghinh đâu. Tâm tình con người hết sức là rắc rối. Thương yêu, hờn ghét, ganh tị, oán giận, mặc cảm, dĩ vãng... sẽ nở ra những đóa hoa hương thơm ngào ngạt hoặc tua tủa gai nhọn hại người.
Tôi thường cố gắng nhìn mọi người, mọi khía cạnh cuộc đời với con mắt tích cực. Mỗi ngày đều có sáng tối, mỗi chuyện đều có đúng sai, mỗi người đều có tốt xấu. Vậy nếu bạn có giận tôi vì tôi về Việt Nam làm từ thiện thì xin bạn hãy quay lưng lại với những cái gì gọi là ủy ban, là tham nhũng, là đục khoét, là độc tài... để trở về nhìn những con người bạc phước, thiếu thốn, những con người đã có cùng chúng ta một dòng máu, một lịch sử.


Tác giả Lệ Hoa Wilson (giữa) và các trẻ em nghèo.
Những con người mà hàng ngàn năm trước đây thân nhân họ đã cùng thân nhân ta ngâm mình dưới nước đóng từng cây cọc nhọn để chọc thủng đoàn thuyền hung hãn của bọn xâm lăng, đã gục ngã trên những mảnh đất khô cằn để máu và mồ hôi thấm sâu từng tấc đất. Họ hiện nay không có con du học ngoại quốc, không có tài khoản ở nhà băng Thụy Sĩ, không có biệt thự trên đồi núi cát vàng.  
Họ chỉ cần bao gạo 10 kí lô, thùng mì ăn liền, chai xì dầu rẻ tiền, bịch đường, gói muối để biết chắc rằng vài ngày tới cả nhà sẽ có miếng ăn và người chồng có thể nghỉ khiêng vác để nằm nhà một hai ngày mong làm hạ cơn sốt, người vợ có thể nghỉ gánh gồng một hai ngày để băng bó vết nứt nẻ nơi bàn chân. Bạn ơi, hãy nói “Yes” nha bạn.  
Sao cùng là con người mà đứa trẻ ở xứ khác được nâng niu chiều chuộng, còn đứa nhỏ này đang mang bệnh ung thư, da mặt tái mét, đầu cạo trọc lóc, lại phải nằm trên chiếc chiếu sờn rách dưới gầm giường.
Không, tôi không viết trật đâu bạn à. Nó đang nằm đó, trên nền đất, dưới gầm của một cái giường mà trên đó có hai ba đứa trẻ may mắn khác, cũng mang bệnh ung thư như nó đang nằm, một cánh tay khẳng khiu chìa ra với ống kim đâm vào gân máu, một bịch nước hóa chất máng lỏng lẻo ở cây cột giường trên.
Nó nhoài đầu ra khỏi gầm giường, nói nhẹ: “Cho cháu chụp hình với ông bà Mỹ!” Ông bà Mỹ đây là thằng con lai của tôi và cô bạn Mỹ trắng của nó với mái tóc nâu vàng. Tôi dẫn hai đứa, khi chúng về thăm Việt Nam, vô nhà thương ung bướu Gia Ðịnh để chúng phát chút quà và học một bài học lớn.
Tấm hình của đứa nhỏ sẽ không có con búp bê Barbie xinh đẹp, không có cái áo đầm vải lanh mắc tiền, không có sợi dây chuyền lắp lánh nơi cổ và chính nó cũng sẽ không nhìn được hình dáng xanh xao rã rời của nó.
Nhưng nó vẫn hạnh phúc vì được chụp chung với bà Mỹ có mái tóc khác màu đang quì xuống sàn gạch cầm tay nó. Ðôi khi hạnh phúc thật là giản dị, giản dị đến nỗi làm tim mình rướm máu. “Bà Mỹ tóc vàng” nước mắt rưng rưng...
Tôi không biết chắc là có nơi nào trên thế giới mà các bệnh viện giống như ở Việt Nam? Nơi đây có chen lấn để lấy số, có mời chào bịch mận gói xoài, có làm mối bán chút máu dư thừa, có giành giựt xe ôm, taxi, có thừa cơ móc túi giựt tiền, có chạy theo níu kéo xin chút quà còn sót lại, có nụ cười nịnh nọt nài thêm giọt thuốc, mũi kim, có tiếng chửi tục tằn khi không vừa ý.
Ðó không phải là nhà thương, đó là một bãi chiến trường. Bệnh nhân muốn giết vi trùng. Bác sĩ muốn giết lương tâm. Nhân viên y tế muốn giết lòng thương hại. Nhân công muốn giết mệt mỏi. Người nuôi bệnh muốn giết sự bất công.
Ôi, nơi đây đầy những nụ cười gượng gạo và tràn trề nước mắt khổ đau.
Vậy thì bạn ơi, nếu có dịp chia sẻ làm sao ta có thể quay lưng?
Người bị bịnh ung thư sẽ không lây bệnh cho bạn nhưng người nuôi bệnh và người quanh quẩn bên hành lang để kiếm chút quà dư thừa thì có không biết bao nhiêu là bệnh. Nếu bạn là người dễ bị nhiễm trùng xin bạn đừng đến bệnh viện mà hãy đến các nơi nấu ăn từ thiện. Bếp từ thiện của sư cô Như Giác là một trong những điểm phát thức ăn hằng ngày cho thân nhân của người bệnh.


Nụ cười của trẻ em nghèo khi nhận được một bao gạo từ thiện.
Họ đến từ gần như Mỹ Tho, Cái Bè, quận 1 quận 5, từ xa như Quảng Ngãi, Quảng Nam, Qui Nhơn, Ðà Nẵng. Họ hoặc ngủ la lết bên cạnh đứa con xanh xao vàng vọt trên sàn phòng bệnh hoặc mướn một cái giường đơn trong hẻm nào đó với tất cả thiếu thốn tiện nghi. Họ đã cầm bán đến con trâu cuối cùng hoặc đã ngậm ngùi từ giã căn nhà ọp ẹp trên công đất khô cằn để có tiền chữa bệnh cho con.
Lần này đến bệnh viện với chị Ba, chủ nhân tiệm ăn Thành Mỹ, em Hạnh chủ nhân tiệm ăn PhoNMore ở Long Beach, em Diệu Ánh ở Tổng Hội Cư Sĩ và một vài người bạn, chúng tôi len lỏi lên cầu thang để đến tầng lầu ba nơi chữa trị cho thiếu nhi. Tôi dùng đúng động từ bạn à. Len lỏi, vì thân nhân và cả bịnh nhân ngồi chật cả các bậc thang lên lầu, chỉ chừa một lối đi nhỏ vừa chèn nhét một bước chân! Với các chất nêm nếm độc hại từ Trung Quốc, với dòng nước nhiễm trùng từ chất thải nhà máy, với khói bụi mù bay, trẻ em bây giờ bị ung thư nhiều hơn bất cứ lúc nào.
Chúng tôi đứng trước cửa phòng chờ nhân viên trật tự dẫn đi, nhìn cái hành lang đáng lẽ ra phải trống trải và được quét dọn sạch sẽ, vệ sinh để cho nhân viên y tế đẩy các xe thuốc, các y tá vội vã chạy tới phòng khi chuông reo, các bác sĩ di chuyển thong thả để khám xét bịnh nhân, nay lại chật ních (tôi không thể dùng danh từ nào khác) những bịnh nhân và thân nhân, nằm ngồi ngổn ngang, mà cặp mắt đỏ hoe.
Người cha tay mặt ẵm con, tay trái cầm bình nước hóa trị giơ cao khỏi đầu để từng giọt chảy qua cây kim thấm vào dòng máu bịnh hoạn của con, chân bước vòng vòng trong cái không gian nhỏ hẹp, miệng ru nhỏ cho đứa con bớt khóc, bớt đau... ôi con ơi, nếu cha có thể nhận những khối u nần xấu xa đó để cho con được tươi cười chạy nhảy ngoài kia... cha sẽ nhận ngay để đầu con khỏi trọc, để da con khỏi xanh, để con vang vọng tiếng cười thay vì tiếng khóc đau thương.
Những bao thơ đựng chút ít tiền mà chúng tôi trao qua tay họ sẽ không làm họ hết bịnh, hết khổ nhưng đã làm cho họ ngay trong phút đó, ngay trong hiện tại đau thương đó, nở được nụ cười.
Buổi chiều chúng tôi đến bếp ăn từ thiện chùa Bảo Vân để chia sẻ buổi cơm chiều.
Tôi biết chắc là 70 phần trăm các bạn về Việt Nam làm từ thiện đều biết nơi đây. Những thức ăn chay bổ dưỡng, ngon lành, sạch sẽ được các bạn trân trọng và thân mật múc vào “cà mèng” của các thân nhân người bệnh.
Nơi đây có hai loại từ thiện. Một là phát không các buổi điểm tâm, cơm trưa và cơm chiều cho người nuôi bệnh. Hai là phát tiền để mua thêm thuốc. Ðể nhận được thức ăn, người nuôi bệnh phải có giấy nhập viện của thân nhân. Ðể nhận được tiền mua thêm thuốc, người nuôi bệnh phải có giấy từ địa phương chứng nhận thuộc diện hộ nghèo.


Một em nhỏ bị ung thư ở bệnh viện ung bướu Sài Gòn.
Rời bệnh viện ung bướu, ngày hôm sau chúng tôi đến trường Tình Thương Ái Linh ở số 119 đường 154, phường Tân Phú, quận 9, Sài Gòn, để tham dự buổi ăn trưa và hớt tóc cho các học sinh tiểu học. Nơi đây do các sơ chủ trương với sự hợp tác của các sơ, các dì và Phật tử. Các cô gái trẻ từ thành phố tới với đầy đủ dao kéo để hớt tóc miễn phí cho các em, từ kiểu ngang vai tới xõa ngang trán, từ cạo trọc lóc cho tới còn vài hàng lơ thơ. Thôi thì các “khách hàng” đòi hỏi đủ mọi kiểu mọi dáng và mọi người đều được thỏa mãn, chỉ thiếu tiền “tip” mà thôi! Buổi ăn trưa với cơm rang và đùi gà lăn bột chiên giòn. Wow, ngon ơi là ngon.
Có một em bé trai 9 tuổi, cha mẹ chết hết, ông ngoại nuôi dưỡng, các thầy trong chùa Tân Phú nhận làm đệ tử, các sơ cung cấp buổi ăn trưa với thịt cá bổ dưỡng, các cô thầy Công Giáo dạy kèm thêm cho theo kịp chương trình. Thật là một mắt xích hoàn hảo và tuyệt vời.
Chúng tôi hỏi sao cháu xin cạo đầu trọc lóc mà không xin chừa một cái chỏm. Cháu trả lời rành rọt:
“Dạ cháu chưa đủ trình độ.”
“Chừng nào thì cháu mới đủ trình độ?”
“Dạ khi nào cháu học thuộc kinh Di Ðà thì sư phụ mới cho để chỏm!”
Chị Ba Thành Mỹ thương quá nên gởi dì Bích Huyền, đại diện cho trường học, một số tiền đến ông ngoại cháu.
Hạnh phúc vô biên khi ta có thể hòa hợp với một tôn giáo khác. Chúng tôi cám ơn các thiện nguyện viên Phật Giáo, các điều hành viên Công Giáo và ra về với nụ cười rộng mở.
***
Trên chuyến bay từ Taipei về Việt Nam, tôi ngồi gần một phụ nữ trẻ tên Lan ở miền Bắc California. Sau khi chuyện trò, cô cho biết ở Cái Bè có chùa Kim Phước ở ấp Hiệp Quới, xã Hiệp Ðức, huyện Cai Lậy chuyên nuôi trẻ mồ côi và người già. Ngoài ra còn có một nhóm thiện nguyện nấu ăn miễn phí cho bịnh viện. Thế là cuộc hẹn hò diễn ra.
Từ Sài Gòn xuống Cái Bè vào khoảng hai tiếng. Chúng tôi xuống xe và đi đò qua vàm. Quà cáp đã được các vựa gạo và tạp hóa địa phương giao trước rồi. Cám ơn Trời Phật. Nếu chúng tôi phải mang theo quà thì chắc chắn sẽ thành Người Bỏ Cuộc!


Chị Ba Thành Mỹ đang giúp hớt tóc cho các em.
Tới nơi mỗi người được một anh chạy xe ôm chở vô chùa. Tôi chắc chắn là các bạn sẽ đồng ý với tôi là không ở đâu mà người lái xe hơi và xe gắn máy giỏi như ở Việt Nam! Trời ơi, con đường làng tráng nhựa nhỏ hẹp, nếu ở bên Mỹ nầy, hai người đi bộ sẽ đụng nhau chan chát, nhưng ở Việt Nam thì một xe chạy hướng Bắc chở đầy bao bố, chuối, dừa xiêm, đu đủ, một xe chạy hướng Nam với chị Việt kiều xanh mặt ngồi sau lưng. Hai chiếc xe ẹo qua ẹo lại, qua mặt nhau cái vù, anh hướng Bắc nhàn nhã hướng về phương Bắc. Anh hướng Nam thong thả hướng về phương Nam. No problem! Chuối dừa vẫn xanh và chị Việt kiều cũng vẫn xanh dờn!  
Nhà nuôi trẻ và nhà dưỡng lão ở sát bên nhau. Trước mặt là ngôi chùa. Một bên tương lai. Một bên dĩ vãng. Ðối diện là hiện tại. Chúng tôi đem kẹo bánh, quần áo mới mặc cho các em. Bộ đồ đáng giá hai đô la. Nụ cười đáng giá ngàn vàng.
Các bô lão thì vui mừng hể hả vì có người hỏi thăm và “chat.” Các cụ khoe các thời khóa biểu tụng kinh, các hoạt động trong ngày, các tỉnh thành nơi các cụ đã từng sống thời tuổi trẻ... Chúng tôi ngồi lên những chiếc giường tre trải chiếu cói, nắm tay nói chuyện tào lao.
“Bà tám” một hồi tôi ra vẻ thành thật và ghiền ghiền hỏi coi ở đây có cụ nào biết đánh tứ sắc hay không vì tôi ghiền quá rồi. Thế là trận cười như pháo nổ lên. Không cô ơi, ở đây thứ nhất không tiền, thứ hai thầy cấm! Vậy thôi, cháu từ giã các dì nha. Khi nào có tiền và thầy cho phép thì các dì email cho cháu nha. Ủa mà email là cái gì vậy cô? Thỉnh thoảng có y tá tới cho thuốc chớ chưa nghe tới y meo bao giờ! Thôi các dì ơi, biết nhiều khổ nhiều. Các dì hãy nhìn cái dòng sông nho nhỏ ngoài sau bếp kia mà tận hưởng hương vị quê hương, quên cái tên email nhiều chuyện kia đi. 
Lại một màn ẹo qua ẹo lại. Từ xa tôi ngắm nhìn cái cầu hẹp vừa đủ để đẩy cái xe đi chợ, nay phải vui vẻ giang rộng vòng tay đón hai chiếc xe gắn máy! Tôi nói giang rộng vòng tay là vì cái cầu không có thành cầu, chỉ chơ vơ một mảng xi măng bắt qua sông và dòng sông thì lúc nào cũng hạnh phúc đón chào bạn, từ chết tới bị thương!
Trong óc tôi thoáng hiện kinh cầu siêu, nhưng tôi chưa chết mà. Lại thấp thoáng kinh cầu an, nhưng tôi có bịnh hoạn gì đâu. Hay là nên sám hối những tội lỗi đã gây ra? Tôi còn đang chọn lựa thì vù một cái, chiếc xe đã băng ngang cầu, nó vẫn nổ máy, tôi vẫn xanh lè.
Lên xe hơi (cám ơn Chúa), chúng tôi thẳng tiến về Cần Thơ và tới Hậu Giang. Hình như các chùa thuộc phái Nam tông và Khất Sĩ không được chánh quyền ủng hộ lắm vì họ chỉ thờ duy nhứt một vị Phật Thích Ca. Các chùa thuộc Bắc tông thì thờ nhiều Phật khác nhau, nhứt là Phật Quán Thế Âm thành ra dễ dàng cho nhiều người tới hành hương, cầu xin, cúng dường, lễ bái, v.v...
Các tin đồn thường được tung ra là Mẹ Quan Âm chùa này linh thiêng, cầu đâu có đó, tượng Phật Mẫu chùa nọ thường có ánh sáng cầu vòng xuất hiện, cúng dường nhiều và thành tâm cầu nguyện thì vận may chẳng bao giờ bỏ bạn. Ðào mả, bốc mộ ông bà, cha mẹ đem đến chùa kia xây lăng thì con cháu sẽ làm giàu tiền đếm mỏi tay...
Và chúng tôi chọn một chùa Nam tông ở Hậu Giang nằm giữa cộng đồng Miên Việt vì họ nghèo thật sự. Nước mưa ngập chùa, các sư cởi trần trộn hồ, đấp nền, xây cảng. Ðâu có đại gia hoặc tai to mặt lớn của chánh quyền tới cúng bái đâu mà có tiền mướn nhân công. Phật thương chúng sanh. Chúng sanh phải tự thương mình! Gạo, bánh, đường, xì dầu, quần áo trẻ em được các bạn cùng các sư tưng bừng trao qua tay.


Phật tử Diệu Ánh phục vụ cơm chiều ở bếp ăn từ thiện Bảo Vân.
Ðã lâu tôi không thấy những bàn chân đen đủi, nứt nẻ với những ngón cái phồng to và hơi quặp về phía trái vì đi bộ và gánh vác nặng nề. Ngày hôm đó những bàn chân này như những mũi kim nhọn đâm vào tim tôi khiến tôi nhớ đến những món ăn béo bổ dư thừa mà tôi đã đổ vào ống cống và nghiền nát...
Tôi nhớ lại bài báo tôi vừa đọc quảng cáo các đại gia Việt Nam ăn chén yến 500 đô la, các nữ doanh nhân thành đạt xách cái bóp Hermes 10,000 ngàn đô! Tôi và họ có khác gì không? Chắc là không. Vì tôi và họ đã cùng ăn chén cơm nguội, đã dùng hết cái phước đức đã tạo ra từ kiếp trước mà kiếp này chẳng nấu được chén cơm nóng nào...
Sư cả là một người trẻ tuổi, đã có bằng cử nhân về tâm lý học ở thành phố Saigon. Sư đã qui tụ các trẻ mồ côi, lang bạt, quậy phá trong phường về chùa, dạy chúng Phật pháp, văn hóa và cho chúng qui y. Người dân trong phường rất vui mừng và biết ơn sư vì đám trẻ không còn trộm cắp phá phách như xưa mà lại biết tu học và giúp đỡ mọi người. Các sư non này nói tiếng Việt và Miên, đọc kinh tiếng Phạn và bập bẹ tiếng Anh. Vì tôi làm việc ở Long Beach với nhiều người Miên nên tôi cũng quơ quào được vài chữ Miên. Thế là một “trận chiến” Miên-Việt-Anh giữa tôi và các sư non diễn ra, thôi thì mạnh ai nấy cười vì hiểu được có, hiểu lầm có và hoàn toàn không hiểu có.
Các sư giương dù tiễn tôi ra khỏi hẻm với những câu thank you, good bye, see you again, ôkun, cám ơn vang dội. Cám ơn Trời Phật, không phải nơi đâu tôi cũng khóc. Ðời còn cho ta nhiều dịp để cười nếu chúng ta biết mở trái tim. Thật là hạnh phúc khi ta có thể hòa đồng với một giống dân khác, một văn hóa khác, một hệ phái khác. Chân trời thật là rộng.
Chùa Kỳ Quang 2 ở 154/4A Lê Hoàng Phái, phường 17, quận Gò Vấp là một quần thể Phật Giáo kiến trúc khác lạ với chánh điện là những thạch nhũ nhân tạo màu xám cho ta cảm giác của sự khám phá và thiên nhiên. Tất cả tượng Phật trong lòng điện đều tạc bằng đá trắng, từ Phật Thích Ca, các vị Phật khác cho tới 18 vị La Hán và các vị tổ. Có những hang động nho nhỏ thờ Bồ Tát Ðịa Tạng, Bồ Tát Quán Thế Âm, ta có thể lặng lẽ ngồi đầm ấm đối mặt với các Ngài trong một không gian nhỏ nhắn và an tịnh, lòng lắng dịu để thong thả trở về...
Hậu điện là nhà bếp và các dãy phòng dùng để nuôi các trẻ mồ côi và bại não. Phòng ốc sạch sẽ, gọn gàng. Các chị phụ bếp, nuôi trẻ dịu dàng, nhân hậu. Nhưng những đứa trẻ lại làm mắt bạn cay cay. Những cái đầu lớn hơn hai trái dưa hấu, gương mặt già cỗi của một người 70 tuổi (dù cháu chỉ mới 5 tuổi), bàn tay bị da bao dính lại, hai tai cái xệ cái nhổng, xương sống không chống đỡ nổi thân hình chỉ nặng 5 kí, những đứa trẻ này suốt ngày, suốt đời nằm đó, không nói năng, không nghe ngóng, không nụ cười. Chỉ có tiếng rên nho nhỏ và ánh mắt dại khờ.
Các chị nuôi trẻ đút từng muỗng cháo nghiền nát với rau xanh vào miệng để giữ cho tim cháu đập... Người Việt Nam bị nhồi sọ, cho tới giờ phút này, sau khi chiến tranh chấm dứt 40 năm cũng vẫn còn đổ thừa mọi bịnh hoạn cho chất độc da cam! Hình như đổ thừa cho Mỹ với chất độc da cam (dù đã bị thua kiện ở tòa án quốc tế) thì dễ hơn là đổ thừa cho các chất hóa học nêm nếm độc hại từ Trung Quốc.
Chúng tôi tặng chùa sữa, tã, đường, bột ngọt và tiền cho các chị nấu bếp và phục vụ.


Các em mồ côi hạnh phúc trong quần áo mới.
Chúng tôi gặp một cô gái Tây phương trẻ tuổi vào phòng. Nói chuyện với cô mới biết cô và một nhóm bạn đến từ một hội thiện nguyện Công Giáo ở Barcelona, Spain. Họ ở Việt Nam ba tháng để thăm viếng và làm việc với các chùa chiền có nuôi dưỡng các cháu khuyết tật. Họ vỗ về, an ủi và chuyện vãn với các cháu. Không biết các cháu có hiểu gì không khi họ nói líu lo nhưng chắc là tâm linh của các cháu sẽ cảm nhận được tình yêu thương nhân loại mà họ chia sẻ với các cháu.
Xin cám ơn Chúa và các con chiên của ngài.
Nơi cuối cùng chúng tôi viếng cũng là một chùa Khất Sĩ, tịnh xá Ngọc Huệ 210/3 Quốc lộ 1A, Khu 3, phường 2, thị xã Cai Lậy, Tiền Giang. Chùa đã thông báo đến các hộ dân và hơn trăm người khiếm thị đã ngồi chật phòng họp khi chúng tôi đến. Họ gồm đủ đàn ông, đàn bà từ già tới trẻ. Họ sắp hàng vịn vai nhau. Tôi và một vài thiện nguyện viên nắm tay dẫn họ đến trước bàn nơi các bạn phát cho họ bao thơ đựng tiền.
Có người mất thị giác bẩm sinh, có người bị bịnh không tiền chữa, có người bị thương nơi chiến trường. Tôi ngạc nhiên khi nói chuyện với họ và biết có nhiều người trong số họ bị mất thị giác khi là chiến sĩ của Việt Nam Cộng Hòa. Có một người vừa mất hai con mắt vừa mất cả chân trái.
Tôi trân trọng đặt tay lên vai anh nói lời cám ơn, người chiến sĩ đã bỏ lại một phần thân thể nơi chiến trận cho những kẻ hậu phương như tôi. Lần này thì tôi không cười mà lại rưng rưng nước mắt, bệu bạo nói lời cám ơn. Anh không thấy cặp mắt tôi ướt đẫm nhưng nghe được giọng tôi nghẹn ngào. Anh chỉ cười nói, “Thôi cô ơi, đã lâu rồi, còn gì nữa.”
Phải rồi, còn gì nữa hả bạn? Còn chớ, còn nhiều lắm bạn à. Còn những dòng sông hôi thúi vì chất thải, còn những khói bụi mù bay trong hơi thở, còn những hóa chất gây ung thư đầy trong thức ăn, còn những thước đất lùi sâu về Bản Giốc, còn những đồng tiền xót ruột vào túi công an, còn những bao thơ dầy cộm chạy chức, chạy tội, còn những cô gái cúi đầu từ giã quê hương, còn những uất hận của bao chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa... còn nhiều lắm bạn ơi...

Thursday, February 26, 2015

Tâm sự người vợ H.O.


Tâm sự người vợ H.O.

Tôi không phải là nhà văn. Tôi cũng không phải là nhà thơ. Tôi chỉ là một cô giáo già với tuổi đời đã gần 80 và tuổi nghề 35 năm trong ngành giáo dục.
Nguyện vọng của tôi khi viết bài nầy là để lưu lại một kỷ niệm thân thương cho con cháu khi chúng muốn tìm lại cội nguồn, khi muốn nhớ lại người mẹ, người bà yêu mến, chúng sẽ đọc và sẽ tự hào là người Việt nam.
Tôi không bao giờ quên được ngày 30 tháng 04 năm 1975, ngày quốc hận và cũng là ngày biến cố quan trọng của đời tôi. Bọn cộng sản tàn ác, vô lương tâm xâm chiếm miền nam. Chúng gieo rắc bao chết chóc, tang tóc cho biết bao gia đình ! Con phải mất cha, vợ phải xa chồng, gia đình phải ly tán nhau ! Bao nhiêu máu đổ thây phơi , bao nhiêu trái tim tan nát...
Chúng gọi những quân nhân trong quân lực Việt nam Cộng Hòa là ngụy quân. Chúng bắt họ ra trình diện và đưa đi ‘ học tập cải tạo’ một tuần lễ. Một tuần lễ đối với chúng nó mà kéo dài tới hai , ba năm hoặc tới hai mươi năm, tùy theo cấp bực.
Tôi nhớ lại lời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói với quân, dân miền nam : “Đừng nghe những gì cộng sãn nói mà hãy nhìn kỷ những gì chúng nó làm”. Thật không sai ! Chúng nó nói một đàng mà làm một nẽo.
Chồng tôi, Nguyễn Văn Quy, bị gọi đi trình diện và bị đi học tập cải tạo ở Cây Cầy ( Tây Ninh ). Một mình tôi ở nhà vừa làm cha vừa làm mẹ nuôi dạy bốn đứa con còn nhỏ dại, đứa con trai lớn nhứt mới mười một tuổi, đứa con gái nhỏ nhứt mới năm tuổi. Tôi dạy ban ngày ở trường tiểu học Bạch Đằng. Ban đêm thì dạy lớp bổ túc văn hóa cho quý cô, quý bác lớn tuổi thất học ( mù chữ ). Chúa nhựt thì dạy kèm tại gia các học sinh học kém. Ông bà ta thường nói ‘ nhất nghệ tinh nhất thân vinh’. Thân vinh đâu tôi không thấy mà tôi thấy tôi cực như trâu. Mà đúng vậy các bạn ạ. Tôi tuổi Sữu. Mà con trâu thì ban ngày kéo cày, tối được nằm nghĩ ngơi nhơi cỏ. Riêng tôi thì cày ngày cày đêm, cày đêm không hết lại cày tiếp ngày chúa nhựt. Tôi còn cực hơn trâu các bạn ạ. Người ta thường nói ‘ trâu ruộng bộn bề không bằng một nghề trong tay’. Với nghề dạy học, tôi bán chữ nuôi cha mẹ bịnh tật già yếu, nuôi chồng đang học tập cải tạo trong lao tù khổ sở, nuôi bốn đứa con nhỏ dại tiếp tục cấp sách đến trường.
Cha tôi tám mươi lăm tuổi bị té gẩy xương hông nên đã nằm liệt giường suốt năm năm qua. Mẹ tôi tám mươi tuổi bị mổ bướu buồng trứng ba lần nên sức khoẻ rất yếu. Gánh nặng gia đình oằn xuống trên đôi vai gầy yếu của tôi. Có một lần nọ bốn đứa con lần lượt đau ban đỏ. Nhìn các con nằm rên xiết trên giường , tôi đau lòng quá ! Tôi quẩn trí định đưa các con lên cầu Bình Triệu ( Thủ Đức ) để mẹ con cùng nhảy xuống sông chết hết cho rồi!! Nhưng tôi sực nhớ lại tôi còn cha mẹ già yếu đang cần đến sự chăm sóc của tôi, còn chồng tôi đang học tập cải tạo đang cần đến sự thăm nuôi của tôi và nhứt là bốn đứa con yêu quí của tôi đang rất cần đến bàn tay mẹ hiền . Tôi tự nhủ thầm rằng “ Tôi Phải Sống”. Bổn phận làm con tôi phải báo hiếu cho mẹ cha. Bổn phận làm vợ tôi phải lo tròn đạo phu thê. Bổn phận làm mẹ tôi phải nuôi dạy các con khôn lớn nên người . Ròng rã suốt bảy năm trời thì cũng có ngày chồng tôi được trả tự do.
Ngày 21 tháng 01 năm 1982, ngày mà chồng tôi được ra khỏi tù cộng sản, ngày mà cả gia đình tôi đều nở nụ cười mừng rở. Nhìn chồng gầy ốm xanh xao, tóc đổi màu bạc trắng, tôi cay đắng, nghẹn ngào.Tôi chạy đến ôm anh, chỉ thốt ra được hai tiếng “ Mình ơi” rồi nước mắt tuôn ra thắm đẩm gò má và loang lổ trên ngực áo. Anh thì cũng chẳng thốt được lời nào, chỉ ôm chặt lấy tôi với khóe mắt rưng rưng đầy lệ.
Ôi làm sao tả xiết cảnh đoàn tụ sao bao năm dài xa cách. Tôi thở phào nhẹ nhỏm. Kể từ bây giờ tôi sẽ có người bạn đời bên cạnh để chia xẽ vui buồn, để chung nuôi con cái, để phụng dưỡng cha mẹ già.
Mỗi tháng anh phải viết báo cáo và trình diện tại phường 24 quận Bình Thạnh ( nơi cư trú của gia đình tôi ). Sau một năm, anh đi làm thư ký cho khách sạn bên Khánh Hội dưới sự quản chế của phường. Đến năm 1984, tôi nhờ một chị bạn làm tại bưu điện Saigon gởi hồ sơ của chúng tôi tới tòa đại sứ Mỹ bên Thái Lan , xin đi Mỹ theo diện H.O.. Chờ đợi mõi mòn mười năm, hồ sơ được chấp thuận cho một gia đình gồm cha mẹ và ba đứa con (đứa thứ tư đã vượt biên năm 1988 và đã định cư tại Canada ) qua Mỹ.
Làm sao để ta có thể giải thích được phước họa ở đời ? Ngày 30 tháng 09 năm 1994 , vợ chồng con cái chuẩn bị đi phỏng vấn cho một cuộc đổi đời thì sự thay đổi oan nghiệt lại lù lù hiện tới : Mẹ tôi đột ngột qua đời ! Hởi ôi, thân nầy ví xẽ làm hai được ! Tôi nên đi theo chồng con hay ở lại lo hậu sự cho mẹ hiền ? Thôi thì tùy duyên. Anh và con hãy đi trước đi. Anh ơi hãy cho em… Các con ơi hãy cho mẹ…một lần cuối cùng nhỏ lệ khóc thương đấng sanh thành.
Ngày 17 tháng 10 năm 1994, anh và ba đứa con ngậm ngùi từ giã quê hương. Đại úy Nguyễn Văn Quy của sư đoàn 25 Bộ Binh dẫn theo ba con lên máy bay, đi Mỹ theo diện H.O. 23 để lại người vợ héo hon, người mẹ nát lòng. Sự sống của tôi đã theo đường bay trong đám mây ảm đạm kia mà mất dần, mất dần…Tôi ngã xuống trong chiếc xe mang tôi trở về. Cấp cứu của người bạn bác sĩ làm tôi tỉnh lại và bao lời khuyên lơn của bạn bè lối xóm làm tôi thuyên giảm nổi đau lòng. Tôi tự nhủ thôi thì chỉ có xa nhau sáu tháng. Lo cho mẹ mồ yên mả đẹp thì gia đình lại sẽ gặp nhau.
Anh và các con qua CA ở nhờ nhà người bạn thân mà anh đã kết nghiã anh em trong tù ! Cùng nhau chia xẽ hoạn nạn, dằn vật, nhực nhã, đói khát, anh và Thạch đã coi nhau như anh em ruột. Thạch và Bảo, vợ Thạch, cùng các con đã đem hết tấm lòng thương yêu ra giúp đở cho gia đình tôi. Cả nhà đi học ESL. Con trai tôi vì đã học hết hai năm tại trường sư phạm, môn Anh Văn, nên đã dễ dàng kiếm được việc làm. Cháu đạp xe đi làm nên người bạn Mễ cùng sở thương tình cho cháu quá giang khi mùa đông lạnh tới. Tuy không phải là người cùng chung huyết thống mà cậu ta xem con tôi như người bạn đã thân quen lâu đời. Rồi dần dần cả anh và hai đứa con gái cũng đều có việc làm.
Thế là chúa nhựt cuộc gọi phone tưng bừng diễn ra. Ôi đại dương ơi , dù mi có xa xôi muôn trùng nhưng cũng không có quyền lực cách ngăn tình chồng nghĩa vợ, tình mẩu tử thiêng liêng . Nhưng hảng điện thoại thì có đủ quyền lực gởi cái bill đến với giá sáu trăm đô la !!! Ôi Chúa ơi, những lần sau tôi đều luôn miệng ngăn cản: “ Thôi stop đi anh ơi. Thôi stop đi con ơi …”. Tôi xin được phỏng vấn lại sau bốn tháng xa cách.
Ngày 17 tháng 02 năm 1995, tôi rời ViệtNam với một tâm hồn nặng trỉu, lớp lưu luyến nơi chôn nhau cắt rún, lớp lo lắng cho bệnh tình của cha già . Tôi không dám đến từ giã người vì tôi sợ tôi bị xúc động rồi ngất xỉu đi thì sẽ không đi Mỹ được. Tôi bị bịnh cao máu nặng, mỗi khi tôi bị buồn rầu hay xúc động thì tôi bị ngất xỉu rất lâu mới tỉnh dậy. Máy bay cất cánh rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 12 giờ rưởi và sau 20 tiếng đồng hồ , gia đình tôi lại xum họp bên Mỹ.
Ngày ngày tôi đến trung tâm St. Ansem để học Anh văn. Sau sáu tháng tôi phải đi mổ mắt . Trước khi đi mổ, tôi quỳ gối trước bàn thờ và thành tâm khấn nguyện : “Xin Đức Mẹ cho con sau khi mổ mắt thì thấy được rõ ràng.Nếu con bị mù chắc con tự tử chết quá vì con không muốn làm khổ chồng và các con của con !”. Có lẻ vì quá thương chồng và các con nên tôi mới có ý nghỉ điên cuồng như thế. Đức Mẹ đã nhận lời cầu nguyện của tôi nên sau khi mổ, đôi mắt tôi rất sáng và trông thấy rỏ ràng . Tôi có thể đọc sách mà không cần mang kiếng lảo nữa. Con xin cám ơn Mẹ Maria, tôi xin cám ơn bác sĩ Minh, người đã mổ mắt cườm cho tôi. Tôi đặt chân lên đất Mỷ ở cái tuổi năm mươi tám , cái tuổi dở thầy dở thợ và không muốn đi ở đợ . Ở ViệtNam tôi làm cô giáo, qua Mỹ tôi “ tháo giầ”.
Làm cô giáo 35 năm, hôm nay đổi đời tôi trở lại làm học trò ! Thật là một kinh nghiệm sâu sắc và quí giá. Chồng tôi học buổi tối, Anh văn và Spanish. Tôi học buổi sáng. Ban ngày anh đi làm việc ở tận Long Beach. Chiều về ăn vội vài chén cơm rồi đi ngủ để đến 10 giờ tối thì vợ chồng tôi lại đến xưởng phân phát báo Los Angeles để xếp báo. Đến 5 giờ sáng thì cùng nhau đi bỏ báo. Điạ điểm bỏ báo của chúng tôi ở gần biển nên mùa hè thì dễ chịu, còn mùa đông thì lại vất vả, khổ sở. Gió biển lạnh thấu xương . Tay xách, vai mang bị đựng báo, chúng tôi lê bước bỏ báo tận từng nhà vì chúng tôi tuổi già, sức yếu, tay rung nên không thể ngồi trên xe mà quăng báo một cách điệu nghệ như đám trẻ. Xong việc, anh đưa tôi tới Golden West để tôi tham gia lớp học, còn anh lại đi làm thêm. Tôi học Anh văn rất khó khăn nên mấy tháng đầu nghe thầy giảng mà như vịt nghe sấm ! . Phần lớn tuổi, phần đầu óc chậm tiếp thu nên thay vì học lớp cắm hoa chỉ có hai năm , tôi phải mất bốn năm. Sau bốn năm miệt mài tôi cũng ra trường vào mùa hè 2001 với chứng chỉ Floral Design & Shop Management. Dù có chứng chỉ trong tay nhưng với số tuổi đời đã muộn nên không có tiệm hoa nào mướn tôi hết. Tôi đành ở nhà lo cơm nước cho chồng và các con. Đêm đêm cùng chồng đi bỏ báo cho đến lúc hưởng tiền già.
Tôi thuộc loại Giamaha ( già mà ham ). Ham học, ham làm chớ không ham đi shopping . Vì tiết kiệm ngân quỷ gia đình , tôi chỉ mặc đồ hiệu ‘ DOMIBO’ (đồ Mỹ bỏ ) và DOREMI (đồ rẻ Mỹ ). Ba đứa con tôi tiện tặn để dành tiền trong ba năm và mua được một căn nhà ba phòng ngủ, hai phòng tắm, giá $158,000 mà chỉ đặt tiền trước có $ 10,000. Trước khi mua nhà chúng tôi tạm trú với Thạch . Sau một năm chúng tôi muớn một căn hộ hai phòng đường Magnolia để ra riêng. Sau khi ở được hai ngày, đứa con trai lớn xuống garage thì thấy xe đã mất . Tôi bủn rủn cả chân tay. Chiếc xe chưa trả hết tiền mà đã mất .
Nổi khổ mất xe còn nóng hổi thì anh cả tôi bên ViệtNam kêu qua báo tin ba tôi vừa mới qua đời sáng ngày 05 tháng 04 năm 1995. Con người có thể chịu đựng được bao nhiêu đau khổ dập dồn trong một thời gian ngắn ngủi hả bạn ? Lòng tôi ray rứt, ăn năn. Phải chi tôi nán lại ViệtNam hai tháng thôi thì tôi đã có cơ hội mang chiếc khăn tang tiễn đưa ba tôi đến nơi yên nghĩ cuối cùng . Phải chi tôi đừng vội vàng thì tôi đã có thể quì bên giường bệnh và vuốt mắt đấng sanh thành trong lần tiễn biệt. Tôi khóc như mưa và khấn nguyện : “ Cha ơi, xin hãy tha cho con tội bất hiếu. Con không thể nào vẹn vẽ cả đôi đường …Xin cha hiểu cho con. Con thương cha nhiều lắm…”. Tôi không thể về VN được nên gởi tiền về cho anh tôi lo ma chay. Trong sáu tháng tôi mồ côi cả mẹ lẫn cha !!!
Tôi ở nhà lo việc nội trợ, nấu nướng để khi anh và các con về sẽ có bát canh nóng, chén cơm dẽo . Cả nhà sống trong hạnh phúc giản dị, chân thành. Các con ban ngày làm việc, tối học thêm ở Golden West. Chúng hiện đã hoàn thành “ Giấc Mơ Mỹ” với công việc ổn định, nhà cửa đàng hoàng. Vợ chồng tôi chỉ ao ước sớm có cháu nội ngoại để ẳm bồng cho vui tuổi già. Các con tôi đều hiếu thảo, hiền ngoan. Gia đình tôi rất hạnh phúc. Ngày cuối tuần xum họp ăn uống và cùng nhau đi lễ ở nhà thờ Westminster. Chúng tôi tập cho các con biết thương yêu, chia xẽ và đở nâng nhau trong những khi tối lửa tắt đèn.
Sau mười sáu năm cùng nhau chia xẽ tất cả thăng trầm, buồn vui, khổ đau và hạnh phúc, ngày 14tháng 01 năm 2009, anh bỏ tôi ra đi về với Chúa. Anh trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Fountain Vallley vì nhồi máu cơ tim. Trước khi hôn mê, anh đã thì thầm với tôi : “ Loan ơi, anh mệt lắm”. Nghe anh nói mà tim tôi đau nhói. Tôi cảm thấy như có muôn ngàn mủi tên đâm vào trái tim tôi. Tôi nắm tay anh, cố nén tiếng khóc. Đau khổ ơi, hãy chảy ngược vào tim đi, hãy nằm đó rả tan và thấm đậm . Rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ cùng nhau gậm nhắm từng phút, từng giây, từng nét rạch, từng đường vở để cho nước mắt nhỏ từng giọt xuống mộ bia lạnh lẻo, để người nằm đó nhắm mắt thở dài…Anh chăm chú nhìn tôi rất lâu mà không nói được cho đến khi hoàn toàn chìm vào hôn mê. Bác sỉ mời mẹ con tôi ra ngoài để họ dùng máy nhồi tim. Mẹ
con tôi ngồi chờ trên đống lửa . Sau cùng ông đi ra, buồn rầu và nghiêm trang, ông nói : “ xin lổi bà, chúng tôi đã làm hết sức. Ông nhà quá yếu …”.
Các con dìu người mẹ khổ đau ngồi xuống ghế. Tình yêu, hạnh phúc, xum họp, chia lìa…Như những bọt nước…như những chiếc lá vàng… mênh mông….bềnh bồng…vô tận…
Chúng tôi được phép xuống phòng ICU để nhìn mặt anh lần cuối cùng. Sau khi Cha làm phép xức dầu và đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Goan Baotixita sớm trở về với Chúa thì y tá đến rút ống oxy. Tôi nắm bàn tay mềm mại và còn chút hơi ấm của chồng mà nước mắt tuôn rơi. Tôi than thầm : “ Mình ơi, sao mình nở đi trước bỏ em lại bơ vơ một mình . Mình nhớ cầu xin Chúa sớm rước em đi theo mình nghen mình!!”
Chúng tôi quàn anh tại nhà thờ Dilday Brothers ở đường Beach. Chúng tôi xin cảm tạ tất cả quí Cha, quí thân nhân, bằng hữu đã an ủi, thăm viếng và tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Chúng tôi cũng không quên cám ơn nước Mỹ đã cho những gia đình cựu quân nhân của quân lực Cộng Hoà được tị nạn trên miền đất tự do nầy.. Được tự do ngôn luận, được tự do báo chí, được tự do tín ngưởng, được tự do ứng cử và bầu cử, được tự do biểu tình v..v..
Chúng tôi nguyện chọn nơi đây là quê hương thứ hai và chúng tôi cũng sẽ gởi nắm xương tàn tại non nước nầy giống như người chồng người cha yêu quí của chúng tôi vậy.

Viết xong ngày 14 tháng 02 năm 2009
Nguyễn Kim Loan